Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2013

MỘT GIÁM MỤC TỬ ÐẠO ÐẦU THẾ KỶ II




Là vị Giám Mục thứ hai của Tổng giáo khu Antioche, sau các Tông Ðồ, Ignace đã bị bắt và giải sang Roma để chịu tử hình; việc này xảy ra dưới triều hoàng đế Trajan. Trên đường giải đi, Ngài đã viết thư cho các Giáo Hội tỏ tình huynh đệ với Ngài khi ngài ghé qua, cho một số giám mục như Polycarpe thành Smyrne, và cho Giáo Hội Roma nơi ngài đang đi đến.
Người ta còn lưu giữ được một bộ 7 lá thư được coi là của Ignace. Về Polycarpe, chúng ta còn một lá thư của ngài gửi người Philippe. Những lá thư này, dù đôi khi còn bị tranh cãi về tính chính thực của chúng, chắc chắn đã được viết trong khoảng tiền bán thế kỷ thứ II, dựa theo những bận tâm căn bản chứa đựng trong đó.
Các thư của Ignace không phải là những khảo luận thần học, nhưng là chứng từ của một người đang đi đến cái chết và chỉ còn quan tâm đến những gì ngài cho là chính yếu. Qua các lá thư đó, chúng ta thấy được tâm trạng của một vị tử đạo, những xác tín của một tín hữu và một số bận tâm lớn của mục tử. Ðó là những bản văn đơn sơ, thường viết theo những ám chỉ sống động và rất cô đọng.
Các thư của Ignace có những nét giống với Phúc Âm thứ bốn, và với thư thứ nhất của Gioan. Người ta cũng đã chứng minh rằng các thư đó chịu ảnh hưởng các thư Phaolô, nhất là I Corinthô, thư Êphêsô, và các thư Mục Vụ. Cũng như nơi Phaolô tử đạo được trình bày như là sự bắt chước cuộc khổ nạn của Ðức Kitô, tất cả đời sống Kitô hữu đều qui hướng về việc kết hiệp với Ðức Kitô.
Tuy nhiên xét về ngôn ngữ thì đã có sự khác biệt với các tác phẩm Tân Ước. Chẳng hạn, Ðức Kitô được gọi rất tự nhiên là Thiên Chúa ("Hãy để tôi bắt chước cuộc khổ nạn của Thiên Chúa tôi": Thư gửi người Rôma 6,3). Kiểu nói "Con người" không còn hàm nghĩa đặc biệt mà chỉ có nghĩa là Ðức Kitô, thuộc về dòng giống con người do việc ngài sinh ra. Cặp "Xác thịt - Thần Khí" có một chiều kích độc đáo sẽ được nhấn mạnh dưới đây. Nhất là, người ta nhận thấy có những dấu nhấn đặc biệt trong các bận tâm của Ignace.

THỜI KỲ CÁC GIÁO PHỤ ÐẦU TIÊN (THẾ KỶ I-II)




Giáo Hội sống thời thanh xuân của mình giữa lòng đế quốc Roma, mà lúc đó, đã thống nhất về mặt chính trị vùng Ðịa Trung Hải và đạt tới đỉnh cao quyền lực vào thế kỷ II, với nhiều triều đại của dòng họ Antonins: Trajan (98-117), Hadrien (117-138), Antonin (138-161), Marc-Aurèle (161-180). Sự kiện chủ yếu đáng lưu ý ở đây là: Công cuộc thực dân của Roma chỉ là về phương diện quân sự và hành chính chứ không phải về văn hóa hay tôn giáo, vì nói chung nó tôn trọng, và nhất là vẫn chấp nhận những dị biệt, đa tạp của Ðông Phương. Ðế quốc Rôma mang khuôn mặt của một thế giới đại đồng, trong đó hình thành nhiều hình thức pha trộn.
Về phương diện văn hóa và tôn giáo, nói đúng ra, chính Ðông Phương đã xâm chiếm đế quốc do sự bành trướng của ngôn ngữ và văn hóa Hy Lạp cũng như do các tôn giáo Ðông Phương đã tràn vào cả Hy Lạp và Roma: Một hiện tượng hoàn toàn đặc trưng của các thế kỷ đầu thuộc kỷ nguyên này. Các vị thần xứ Syrie (Thần Mặt Trời), Ai Cập (Isis), Phrygie (Cybèle), Iran (Mithra) đi đến chỗ thay thế các thần minh trong đền chư thần Hy-La (Phanthéon) hoặc đồng hóa với các thần minh đó. Sự hỗn hợp, pha trộn các tôn giáo là một hiện tượng điển hình của thời kỳ này. Việc tôn thờ hoàng đế, coi hoàng đế như thàn linh, cũng là do du nhập từ Ðông phương. Ðứng trước sự bùng nổ đa thần này, phản ứng tự nhiên của triết học tuy là do dự, nhưng nó cũng biểu lộ một nỗi khát khao, không thỏa mãn, một sự tìm kiếm mang tính tôn giáo: Ði tới chỗ mang màu sắc tâm linh thậm chí cả màu sắc thần bí nữa. Dẫu sao những bận tâm, những khát vọng thuộc lãnh vực tôn giáo đã giữ một vai trò hiển nhiên trong triết học, và đôi khi tìm được ở đó một cách diễn tả cao quí, đáng trọng không thể chối cãi, dù đó là chủ thuyết Platon hay Khắc Kỷ (Stoicisme) hoặc chủ thuyết Tân Pythagore (Tân Pythagore). Ðiều cần ghi nhận ở đây là: Kitô Giáo: Kitô Giáo khi ra khỏi chiếc nôi ban đầu đã bành trướng trong một thế giới bị chi phối bởi cách tổ chức của Rôma, tinh thần của Hy Lạp và tôn giáo của Ðông Phương: Một thế giới mang những khía cạnh tương phản, vừa kết nhập lại với nhau vừa chịu sự tác động qua lại của bao nhiêu trào lưu triết học, tôn giáo mạnh mẽ. Trong một thế giới như thế, Kitô Giáo tìm thấy những cơ may thật sự, nhưng đồng thời phải vạch ra cho mình một con đường giữa những cám dỗ, hoặc co lại, tự cô lập, hoặc xuôi theo những hình thức hỗn hợp tôn giáo đang thịnh hành.
Ngoài các tác phẩm Tân Ước, ngay từ hậu bán thế kỷ I cũng đã xuất hiện một nền văn chương Kitô giáo, nhờ các tác phẩm thời kỳ này mà chúng ta có được sự liên tục từ Giáo Hội các Tông Ðồ đến Giáo Hội các Giáo Phụ. Vả lại truyền thống quen gọi thời kỳ Giáo Phụ đầu tiên này, kéo dài từ thế kỷ I tới khoảng giữa thế kỷ II, là thời kỳ các "Giáo Phụ Sứ Ðồ" (Père Apostoliques): Sở dĩ gọi là "Sứ Ðồ" (Apostolique) vì xét thời gian, các ngài gần với các Tông Ðồ, và đời sống đức tin của các ngài vẫn còn đón nhận âm vang sống động của lời các chứng nhân: "Ngài đã thấy các Tông Ðồ. Lời rao giảng của các Tông Ðồ còn vang vọng bên tai ngài" đó là lời của Iréné nói về Clément de Rome. Iréné quả quyết rằng Polycarpe, Giám Mục Smyrna đã là môn đệ của Tông Ðồ Gioan. Ngày nay chứng từ của Giáo Hội ngay sau thời các Tông Ðồ vẫn còn tầm quan trọng hàng đầu bởi lẽ cùng với Tân Ước, nó hé mở cho thấy Kitô Giáo mà chúng ta tiếp tục sống ngày hôm nay đã được nối kết như thế nào với sứ điệp nguyên thủy, và đây là điều cốt yếu xét theo quan điểm đức tin.
Khi nhìn vào các Giáo Hội thế kỷ II, sự kiện gây ngạc nhiên nhất có lẽ là tình trạng khác biệt, muôn vẻ của chúng, khác biệt về ngôn ngữ: Bên cạnh tiếng Hy Lạp, Kitô Giáo ở Palestine, Syria, Mésopotanie còn sử dụng tiếng Aram (hay Syriaque) trong khi đó ở Bắc Phi, tiếng Latinh bắt đầu được sử dụng (ở Roma, tiếng Hy lạp sẽ còn ngự trị cho tới thế kỷ III và ngay cả thế kỷ IV) đối với phụng vụ, Giáo Hội cổ thời là một Giáo Hội đa ngữ.
Giáo Hội thời đó rất khác nhau về văn hóa: nhiều cộng đồng, ở Palestine cũng như những nơi người Do Thái tứ tán cư ngụ "Diaspora", vẫn ít nhiều gắn bó với những tập tục và lối suy nghĩ của Do Thái Giáo theo truyền thống kinh sư hay đã bị Hy hóa "chẳng hạn ở Alexandria, ngược lại những cộng đồng khác hội nhập sâu xa vào môi trường và văn hóa Hy La. Các tài liệu chúng ta có minh chứng những khác biệt này; trong văn chương gọi là của các "Giáo Phụ Sứ Ðồ" (Père Apostoliques), người ta thấy có những tác giả rất nhuần nhuyễn văn hóa Hy La, chẳng hạn như Clément de Rome, thủ lãnh của cộng đoàn Roma trong thập niên cuối cùng của thế kỷ I khi xảy ra chia rẽ trong giáo đoàn Corintho, ngài đã viết thư kêu gọi giáo đoàn này hãy hiệp nhất với nhau bằng cách nêu lên ý muốn của Ðức Kitô và của các Tông Ðồ, đồng thời dựa vào những mẫu gương cao cả của người ngoại tận tụy cho công ích. Lá thư chứa đựng một lời kinh phổ quát rất hay và qua đó người ta có thể thấy rõ lòng trung thành của người Kitô hữu đối với Nhà Nước, cho dù là Nhà Nước bách hại đạo.
Ignace d'Antioche cũng viết như một người Hy Lạp đương thời. Trong khi đó có những tài liệu soạn thảo sấp xỉ thời gian này lại cho thấy một nét tương cận điển hình với môi trường Do Thái: Sách Didachè (Giáo huấn của các Tông Ðồ, được soạn thảo lần thứ nhất có lẽ trước năm 70) là một sưu tập các qui tắc thực hành cho cộng đồng, nhất là lấy lại giáo lý về luân lý đang được sử dụng trong cộng đồng Do Thái phân tán; các "thi khúc của Salomon". Một bộ gồm 42 Thánh Thi lấy hứng sâu xa từ Kitô giáo nhưng theo thể văn hoàn toàn Sémit, được viết bằng tiếng Syriaque (tiền bán thế kỷ II). Thư được coi là Sarnabé, tác phẩm vô danh thuộc trường phái Alexandrie, một loại tiểu luận về cách đọc Cựu Ước theo nhãn quan Kitô Giáo, thì gần với lối chú giải thiêng liêng hóa của Do Thái ở Alexandrie (khoảng năm 140). Pasteur d'Hermas, một cuốn sách đưa ra lời kêu gọi mạnh mẽ về việc canh tân luân lý trong Giáo Hội, sau khi sự hăng say ban đầu đã lạt phai, đồng thời cuốn sách đó cũng cho thấy những nét tương cận, gần gũi về mặt thiêng liêng của một số môi trường Kitô Giáo ở Roma với Do Thái giáo (giữa những năm 100 và 140).
Ngoài ra, còn phải kể đến cả một văn chương "ngụy thư" (những tác phẩm tự coi là sách thánh, nhưng không được Giáo Hội công nhận như thế), bắt chước những văn thể của Cựu và Tân Ước, chuyên chở nhiều luồng giáo thuyết kể cả những giáo thuyết hoàn toàn không có gì là chính thống, mang bộ mặt của rất nhiều giáo phái khác nhau.
Giáo Hội non trẻ phải vạch đường đi cho mình giữa bao nhiêu thách đố phải đương đầu. Ba chương sau đây sẽ minh họa ba thách đố chính mà Giáo Hội phải đối diện: Do Thái giáo, văn hóa Hy-Lạp, ngộ đạo thuyết, xoay quanh ba giáo phụ chính của thế kỷ II: Thánh Ignace thành Antioche, Thánh Justin, Thánh Iréné thành Lyon

GIÁO PHỤ HỌC






Trang Giáo Phụ này được soạn thảo nhằm giúp các độc giả có thể khám phá các văn sĩ, các tư tưởng Kitô giáo thuộc những thế kỷ đầu mà người ta gọi là các Giáo Phụ, những chứng nhân về thời thanh xuân của Giáo Hội.
Các "Giáo Phụ" là ai? Theo nghĩa hẹp, kiểu nói này chỉ các tác giả Kitô Giáo cổ thời, giáo sĩ cũng như giáo dân, trổi vượt do phẩm chất giáo lý, có đời sống mẫu mực, và được Giáo Hội về sau chuẩn nhận. Ðó là định nghĩa của các sách giáo khoa về "Giáo Phụ".
Theo một nghĩa rộng và thông dụng hơn, người ta cũng kể vào số các Giáo Phụ những tác giả Kitô Giáo trổi vượt khác của những thế kỷ đầu, cho dù đời sống hay giáo lý của họ không hoàn toàn tránh khỏi những khuyết điểm kể cả những sai lầm nghiêm trọng: Chẳng hạn Tertulien (chết trong ly giáo) hay Origène (có một số luận đề bị coi là phi chính thống, dĩ nhiên là nhiều thế kỷ sau khi ông mất), do giá trị phi thường của toàn bộ công trình của họ và do ảnh hưởng của nó đối với Kitô giáo cổ thời.
"Giáo Phụ học" (Patrologie) và "Khoa học về tư tưởng các Giáo Phụ" (Patristique) là khoa học có mục đích nghiên cứu về các Giáo Phụ, thế nhưng trong thực tế, nó bao trùm tất cả văn chương Kitô Giáo của những thế kỷ đầu, kể cả những tác phẩm vô danh, bên lề, thậm chí cả những tác phẩm phi chính thống: Nghĩa là mọi tư liệu văn chương về Giáo Hội cổ thời.
Thời kỳ các Giáo Phụ kéo dài từ hậu bán thế kỷ I thuộc kỷ nguyên này (những tác phẩm "Giáo Phụ" đầu tiên xuất hiện cùng thời với một phần các tác phẩm Tân Ước) tới thế kỷ IV bên Tây Phương và thế kỷ VII bên Ðông Phương.
Tư liệu của chúng ta bao gồm các tác phẩm của các Giáo Phụ Hy Lạp, các Giáo Phụ La Tinh, ngoài ra còn có những tài liệu được viết bằng ngôn ngữ Ðông Phương cổ: Syriaque (thổ ngữ phát xuất từ tiếng Aram) Copte, Aménien.
Ngày nay, giữa lòng phong trào trở về nguồn Kitô Giáo, một trong những nét phong phú của thế kỷ 20 này, nghiên cứu về các Giáo Phụ đã có một bước phát triển đáng kể. Việc trở về với các Giáo Phụ đã đóng góp rất nhiều cho sự đổi mới trên bình diện thần học, phụng vụ trước và sau Công Ðồng Vaticanô và hiện nay nó đóng một vai trò chính yếu trong cuộc đối thoại đại kết giữa các Giáo Hội ly khai.
Bốn sự kiện sau đây đủ để cho ta thấy rõ hiểu biết về các Giáo Phụ có tầm quan trọng như thế nào đối với việc thấu hiểu đức tin Kitô giáo:
A. Sự kiện đầu tiên là mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời giữa Kinh Thánh, Cựu và Tân Ước, và Giáo Hội của các Giáo Phụ. Thánh Kinh là điểm qui chiếu hàng đầu của đức tin, nhưng đó là Thánh Kinh đã được đón nhận, được đọc trong Giáo Hội, cộng đồng các tín hữu, được đức tin của Giáo Hội soi sáng và được Giáo Hội giải thích. Làm sao chúng ta có thể biết được tác phẩm này của thế kỷ thứ I là thuộc Thánh Kinh, là lời được linh hứng chứ không phải tác phẫm kia mặc dầu được viết cùng thời gian đó, nếu Giáo Hội thế kỷ II đã không ấn định "qui điểm" của Tân Ước nghĩa là xác định, ít ra là trong những gì chính yếu, đâu là những tác phẩm diễn tả đích thật sứ điệp tông đồ, đồng thời gạt ra những tác phẩm khác?
Các Giáo Phụ đã đón nhận Thánh Kinh từ Giáo Hội các Tông Ðồ. Nhưng chính các Ngài đã truyền đạt Thánh Kinh cho chúng ta, vì các Ngài đã là những người đầu tiên học hỏi, chú giải và suy niệm Thánh Kinh. Khi chúng ta đọc, hiểu Thánh kinh theo như Giáo Hội trình bày cho chúng ta hôm nay, là chúng ta gắn bó với cách đọc, cách hiểu của Giáo Hội cổ thời, vừa nối dài và làm cho thêm phong phú dưới ánh sáng của kinh nghiệm riêng của mỗi người. Mà đồng thời vẫn luôn lấy nó làm kim chỉ nam.
B. Chính Giáo Hội của các Giáo Phụ đã đem lại cho chúng ta những "tuyên tín" nền tảng của tất cả cộng đồng Kitô Hữu trong các Công đồng chung đầu tiên: Nicée (325), Constantinople (381), Ephèse (431), Chalcédoine (451). Kinh Tin Kính mà chúng ta tuyên xưng trong Thánh Lễ chính là bản tuyên tín của Công Ðồng Nicée, và được Công Ðồng Constantinople bổ túc, vì thế mỗi lần tuyên xưng là chúng ta được dìm vào trong đức tin của Giáo Hội thế kỷ IV. Là những vị đã hăng say bảo vệ và tuyên xưng đức tin lãnh nhận từ các Tông Ðồ, với tất cả sự trong sáng và chính xác có thể có được, các Giáo Phụ thực sự là những "người cha trong đức tin" của chúng ta! Không thể tách rời các Giáo Phụ khỏi lời tuyên tín của Giáo Hội, các Ngài là kho tàng chung mà các Giáo Hội Kitô quan trọng đều có quyền thừa hưởng, là những "tiến sĩ chung" của đức tin.
C. Giáo Hội của các Giáo Phụ cũng đặt ra những cơ cấu nền tảng cho Phụng Vụ Giáo Hội, chính vì thế mà mọi canh tân phụng vụ, mọi cải cách về phụng vụ khi cần thiết, đều phải thường xuyên tham chiếu Giáo Hội của các Giáo Phụ về khía cạnh này. Giáo Hội không hề nghĩ rằng các hình thức cử hành phụng vụ phải giữ y nguyên, bất di bất dịch qua các thế kỷ, lịch sử về phụng vụ trong Giáo Hội thời các Giáo Phụ, ngay từ đầu đã chứng minh điều đó, tuy nhiên có những cơ cấu, nền tảng cần phải giữ gìn nguyên vẹn, những cơ cấu làm nền cho các truyền thống phụng vụ lớn ở Ðông Phương và Tây Phương. Cả về điểm này Giáo Hội của các Giáo Phụ vẫn là người dẫn đạo thiết yếu.
D. Cuối cùng, chính giữa lòng Giáo Hội, các Giáo Phụ, mà cơ cấu các thừa tác viên chức thánh đã được thiết lập: Chức Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế. Cơ cấu này chưa được định hình rõ ràng trong Tân Ước. Các Kitô Hữu luôn luôn sống những thực tại mà Giáo Hội của những thế kỷ đầu đã thiết lập, cũng vì thế Giáo Hội cổ thời không phải là một thế giới xa lạ đối với các tín hữu hôm nay.

TÍNH HIỆN ÐẠI CỦA CÁC GIÁO PHỤ




Nghiên cứu về các Giáo Phụ tuyệt đối không phải là một môn khảo cổ. Tính hiện đại của các Giáo Phụ là điều có thực, không những vì, như chúng ta đã nói, ngày nay người ta quan tâm nhiều đến các ngài, mà một cách sâu xa hơn vì các ngài là những chứng nhân của một lịch sử sống động, một lịch sử mã mãi liên quan đến chúng ta và đôi khi hoặc ngay cả thường khi chính chúng ta đang sống, đang trải qua lịch sử đó trong tư cách là người Kitô hữu.
Ðàng khác, để có thể hiểu được Kitô Giáo, điều quan trọng là phải có một kiến thức tối thiểu, phải có một ý thức lịch sử, hay có thể nói: một ý thức sáng suốt về lịch sử ngõ hầu chúng ta tránh được hai điều: Thứ nhất, tránh tuyệt đối hóa những điều mang tính chất đặc thù của một thời đại, hoặc những điều vẫn luôn xảy ra trong Giáo Hội, vì Giáo Hội chấp nhận những tiến triển, những thích nghi tùy theo sư tiến triển ngay cả của những nhu cầu mục vụ và những đòi hỏi truyền giáo. Thứ đến tránh tương đối hóa những điều vốn luôn luôn mang tính chất nền tảng trong đức tin và trong đời sống Giáo Hội, những điều làm nên nền móng bất diệt của Kitô Giáo. Nghiên cứu các Giáo Phụ sẽ giúp thực hiện sự biện biệt này. Trang Giáo Phụ này không hề có tham vọng trình bày thấu đáo về các Giáo Phụ, mà chỉ tập trung vào một số khuôn mặt chính, và mở ra những viễn tượng rộng lớn hơn khi nói về các ngài. Ðối chiếu đức tin Kitô Giáo với văn hóa xung quanh, sự thai nghén tư tưởng Kitô Giáo, đó là mội bận tâm chính, xuyên suốt tác phẩm về Giáo Phụ

Joseph-François Michaud




Historian, born at Albens, Savoy, 1767; died at Passy, 30 September, 1839. He belonged to an ancient family of Savoy. Educated at the College of Bourg at Gresse, in 1786 he entered a publishing house at Lyons, but left it after a few years to take up journalistic work at Paris, where, during the Revolution, he defended warmly and not without risk the royal cause. Arrested on 13 Vendemiaire, 1795, he succeeded in escaping and resumed the journalistic war. Under the Consulate he wrote several pamphlets in which appeared criticisms of Napoleon that led to his imprisonment in the Temple for a time. After his release from prison he decided to abandon politics for literature. In 1808 he published the first volume of the "History of the Crusades". In the same year he founded with his brother the "Biographie Universelle". Elected to the French Academy in 1814, he was, under the Restoration, deputy editor of "La Quotidienne", and then lecturer to Charles X. In May, 1830, he undertook a voyage to the East and the Holy Land in order to study phases of Eastern life and thus impart more realistic colour to the accounts of his "History of the Crusades". He was unable to complete the final edition.
Michaud's most important work is his "History of the Crusades" (1st ed., 3 vols., Paris, 1812-17; 6th ed., Poujoulat, 6 vols., Paris, 1841). In his choice of the subject and the manner in which he treated it Michaud was an innovator; his work was one of the first productions of the historical school which, inspired by the works of Chateaubriand, restored the Middle Ages to a place of honour. Today the value of this work seems open to question; the information appears insufficient and the romantic colour is often false. It was none the less the starting point of studies relating to the Crusades, and it was under the influence of this publication that the Academy of Inscriptions in 1841 decided to publish the collection of historians of the Crusades. Michaud had accompanied his work with a "Bibliothèque des Croisades" (Paris, 1829, 4 vols., 12°), which contained French translations of the European and Arabic chronicles relating to the Crusades. Besides, he directed the publication of the "Biographie Universelle" (2nd ed., 45 vols., Paris, 1843), and in collaboration with Poujoulat that of the "Collection des Mémoires pour servir a l'histoire de France depuis le 13e siècle jusqu'au 18e" (32 vols., Paris, 1836-44).

Peter the Hermit

Born at Amiens about 1050; d. at the monastery of Neufmoutier (Liège), in 1115. His life has been embellished by legend, and he has been wrongly credited with initiating the movement which resulted in the First Crusade. While the contemporary historians mentioned him only as one of the numerous preachers of the crusade, the later chroniclers, Albert of Aix-la-Chapelle, and above all William of Tyre, gave him an all-important role. According to Albert of Aix Peter having led during some years the rigorous life of a hermit undertook a pilgrimage to Jerusalem and suffered much at the hands of the Turks.
One day when he was asleep in the Basilica of the Holy Sepulchre, Our Lord appeared to him and ordered him to ask for credentials from the Patriarch of Jerusalem and to go to Europe proclaiming the miseries which had befallen the Christian of the Orient. Peter obtained the patriarchal letters and sought Urban II, who, moved by his recital, came to preach the crusade at Clermont ("Histor. Hierosol.", I. 2). According to William of Tyre (I, II), it was of his own accord that Peter went to find the pope. The pilgrimage of Peter is mentioned by Anna Comnena (Alexiad, X, 8), who, born in 1083, could know nothing of this story except through tradition; she relates, however, that he could not get as far as Jerusalem, and that, resolved to undertake a second pilgrimage, he conceived the idea of preaching a crusade in order to be able to go to the Holy Sepulchre attended by goodly company. It is evidently absurd to ascribe the Crusades to such an insignificant cause. Because of the silence of contemporaries and the later contradictory accounts, even the fact of the pilgrimage of Peter is doubtful, while it is impossible to assign to him the role of promoter of the crusade. The merit of this belongs solely to Pope Urban II (see CRUSADES). Writers like Albert of Aix wished to deprive the pope of this honor in order to attribute it to the ascetics so popular at that time in Europe. It is absolutely certain that it was only after the Council of Clermont that Peter commenced to preach the crusade.
In March, 1096, he led one of the numerous bands going to the East; his enthusiastic eloquence is described by the chroniclers. He arrived with his army at Constantinople 1 August, 1096. After a toilsome march as far as Nicomedia Peter pitched his camp at Civitot, and seeing his army without resources returned to Constantinople to solicit help from the Emperor Alexius. During his absence, the crusaders, commanded by Walter the Penniless, were massacred by the Turks near Nicaea (Oct., 1096). Peter assembled the remnants of his band and in May, 1097, joined the army of Godfrey of Bouillon near Nicomedia. After this he had but an unimportant part. In Jan., 1098, at the siege of Antioch, he even attempted to desert the army, but was prevented by Tancred. In spite of this cowardice he was one of the envoys sent to Kerbûga. On his return to Europe he founded the monastery of Neufmoutier. see CRUSADES.