Dẫn nhập
Tình
yêu là đề tài muôn thuở, là một thực tại rất đỗi quan trọng gây nguồn cảm hứng
sáng tác cho giới nghệ thuật từ cổ chí kim. Nói đến tình yêu như là nói đến một
thực tại huyền nhiệm không ai hiểu thấu nhưng chẳng hề xa lạ đối với bất cứ con
người nào. Người ta chỉ có thể ví tình yêu như là hơi thở của cuộc sống con người,
nếu còn tình yêu thì còn sự sống mà mất tình yêu là mất hẳn đi sự sống đích thực
nơi con người. Có thể nói rằng, chẳng ai có thể hiểu rõ được tận căn, ngọn nguồn
của tình yêu, cũng chẳng ai dễ dàng cắt nghĩa được nó. “Có ai định nghĩa được
tình yêu”?(Xuân Diệu). Tuy nhiên, không phải vì tình yêu là một huyền nhiệm mà
chúng ta không thể không biết được gì về nó, trái lại là con người, ai trong
chúng ta cũng đã hơn một lần chạm đến tình yêu, vì chúng ta sống chung và luôn
sống trong tình yêu. Vậy chắc chắn chúng ta đã hiểu biết ít nhiều về tình yêu.
Nhưng chúng ta phải hiểu như thế nào? để hằng ngày, trong cuộc sống tương quan
với con người, với thế giới, với thiên nhiên và với Thiên Chúa, ta biết diễn tả
tình yêu đó cách hợp lý, đúng đắn và hiệu quả nhất.
Thánh
Gioan Tông Đồ đã định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu”(1 Ga 4,8), và vì
yêu thương nên đã mạc khải mầu nhiệm tình yêu ấy cho con người, để con
người có khả năng thông hiệp với Ngài, nhờ đó mà được sống và được
sống hạnh phúc. Quả thế, Thiên Chúa đã sáng tạo con người và đã ghi
dấu ấn của Ngài vào con người, bằng cách sáng tạo con người có nam,
có nữ và cho con người trở nên giống hình ảnh Ngài(x. St 1, 27). Hình
ảnh đó phản chiếu tình yêu Thiên Chúa bằng sự hiệp thông thần linh
giữa các ngôi vị. Nghĩa là, Con người đã trở nên hình ảnh và họa
ảnh của Thiên Chúa nhờ sự hiệp thông ngôi vị giữa người nam và người
nữ nữa. Theo sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số 1602 có ghi rằng:
“từ đầu đến cuối, Kinh Thánh nói về hôn nhân và mầu nhiệm hôn nhân,
về việc thiết lập và ý nghĩa mà Thiên Chúa đã ban cho nó, về nguồn
gốc và mục đích của hôn nhân, về những biến chuyển qua dòng lịch sử
cứu độ, về những khó khăn do tội và việc canh tân trong Chúa (1 Cr
7,39), trong Giáo Ước Mới giữa Đức Kitô và Hội Thánh”. Cụ thể hơn,
đó là việc Thiên Chúa đã thiết lập và ban định luật riêng cho đời
sống hôn nhân và cho cộng đoàn tình yêu vợ chồng. Như thế, chính Thiên
Chúa là Đấng tác tạo hôn nhân. Cuộc tác tạo hôn nhân đó vừa mang
tính hữu hình vừa diễn tả một thực tại linh thánh vô hình. Đọc Kinh
Thánh, cụ thể trong sách Diễm Ca, chúng ta cũng đã có câu trả lời,
dù rằng câu trả lời đó chưa phải là thỏa đáng, nhưng cũng là một
bằng chứng xác đáng để chúng ta nói về một tình yêu huyền nhiệm,
một tình yêu cao đẹp giữa con người là thụ tạo với Đấng Tạo Hóa là
chính Thiên Chúa. Qua đó, cho ta thấy sự cần thiết của người kitô hữu
trong sự nổ lực đáp trả tình yêu mà chính Thiên Chúa đã khởi sự và
đi bước trước khi dành tặng tình yêu của Ngài cách đă’c biệt cho con
người.
1/ Hình ảnh tình yêu
đôi lứa trong sách Diễm ca
Việt
Nam ta có một câu ca dao thật đẹp và đáng nhớ: "Yêu nhau mấy núi
cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua". Câu ca thật đẹp
vì nó đã nói lên được giá trị cao quý của tình yêu nam nữ; cụ thể
hơn qua tình yêu đôi lứa. Tình yêu đôi lứa là chủ đề cho các nghệ sĩ
sáng tạo ra biết bao bài hát, bức hoạ, bài thơ và những áng văn
tuyệt vời. Dường như tình yêu đôi lứa đã làm cho cuộc đời này tươi
đẹp và phong phú hơn.
Trong
Cựu Ước, các ngôn sứ đã vay mượn ngôn ngữ tình yêu lứa đôi, tình yêu
nhân loại để diễn tả kinh nghiệm của mình về một tương quan đặc
tuyển với Thiên Chúa, tương quan mà một ngày nào đó sẽ được trao
tặng cho toàn thể Israel. Tình yêu nam nữ được diễn tả trong sách
Diễm ca, là một tình yêu hết sức thơ mộng, tuyệt mỹ, đầy kịch tính
và hấp dẫn. Câu chuyện tình Chàng và Nàng gợi nhớ những kinh nghiệm
riêng tư làm đánh động trái tim độc giả. Đây là áng văn thơ về lứa
đôi gặp nhau, mục đích của tác giả là đưa cuộc gặp gỡ này vào trong
mơ, để từ từ vén bức màn tỏ lộ bí nhiệm ẩn dấu bên trong[1].
Trong lúc thả hồn bay bổng theo giấc mộng yêu đương, tác giả sách
Diễm Ca nghiệm lại niềm hy vọng của dân được Chúa chọn. Hình ảnh
Nàng của Thiên Chúa trước hết đó là dân Israel, dân được Thiên Chúa
chọn và ban cho đất hứa, Đấng là tình quân mà dân đón đợi, đó chính
là hình ảnh Đấng Mê-si-a.
Đối
với một Kitô hữu, tình yêu đôi lứa thật đẹp và đáng tôn trọng vì nó
đã phản ánh phần nào về tình yêu của Thiên Chúa đối với con người.
Tình yêu này chỉ thật sự đẹp và cao trọng khi được đặt trong tương
quan với Chúa; chính Chúa đã mời gọi và hơn thế nữa Ngài là sợi
chỉ thắt chặt đôi bạn trẻ với nhau; nếu không có sự tương quan với
Chúa, tình yêu đôi lứa sẽ không bền vững. Có thể không ngần ngại khi
nhấn mạnh được rằng: Thiên Chúa đã si tình, mãi mê đi tìm một thụ
tạo do chính tay Ngài tạo dựng nên để yêu, để thủ thỉ, để phối hợp
trong cuộc tình linh thánh. Cuộc tình này kéo dài từ khởi thủy cho
đến cánh chung, nghĩa là qua mọi thời và muôn thế hệ, Thiên Chúa vẫn
mãi đi tìm và cứu vớt con người như một kẻ si tình đi tình kiếm thụ
tạo do chính Ngài tạo dựng nhưng trong tư cách của "Phu Quân"
đi tìm cưới "Hôn Thê" của mình. Tình yêu tuyệt diệu mà Thiên
Chúa đã dành tặng con người là quá sức tưởng tượng và vượt hẳn
trí hiểu của con người, tình yêu đó có sức mạnh quyến rũ vượt hẳn
tình yêu giữa chàng và nàng, "thảo nào các thiếu nữ mê say mộ
mến"(Dc 1,3). Hình ảnh các thiếu nữ ở đây phải chăng là hình
ảnh ví von dành cho các vị thánh, tâm hồn những con người say mê Thiên
Chúa thực sự. Các ngài có lòng mến yêu, mong được kết hiệp với
Thiên Chúa như người thiếu nữ khát mong gặp được Đấng Tình Quân của
mình: "Hãy kéo em theo anh, đôi ta cùng nhau bước"(Dc 1,4). Để
một khi con người được kết hiệp với Thiên Chúa, tình quân của mình
thì Thiên Chúa sẽ là "hoan lạc vui sướng" của linh hồn con
người.
Thế
nhưng làm sao để linh hồn con người có được sự chắc chắn, làm sao
chiếm được Thiên Chúa và làm sao để trái tim con người thuộc trọn về
Ngài? Một đàng, 'nàng vẫn mãi mê tìm kiếm chàng, một đàng
'nàng'’lại không chịu canh giữ và dành trọn tâm hồn mình cho chàng,
bằng chứng là chỗ: "vườn nho của tôi, tôi không canh giữ".
Hình ảnh vườn nho không được chủ nhân canh giữ có thể hiểu được như
là tâm hồn của người tín hữu, cũng có thể là họa ảnh về lòng
trung thành, sự chung thủy của dân Ít-ra-en. Đã thiếu cảnh giác và
canh giữ mình, nên dân Chúa đã để cho tà thần quấy phá, rất nhiều
lần vườn nho ấy bị dân ngoại dày xéo: " trâu rừng vào phá phác,
dả thú gặm tang hoang"... Việc Ít-ra-en thờ thần ngoại bang, thờ
ngẫu tượng và chống đối lại các ngôn sứ, tiên tri đã lặp đi lặp lại
rất nhiều lần trong suốt chiều dài lịch sử cứu độ, đó chính là
biểu hiện của sự bất trung, thiếu chung thủy...
Một
tình yêu đôi lứa chỉ cao cả và huyền diệu khi họ thực sự đến với
nhau bằng con tim chân thành, sẵn sàng chia sẽ cho nhau những niềm vui
nỗi buồn trong cuộc sống, và họ luôn mong những điều tốt đẹp nhất
cho người yêu. Chỉ cần người nam được nhìn thấy người nữ hay người
nữ nhìn thấy người nam là họ đã vui tươi hớn hở. Còn khi vắng nhau,
họ ca ngợi nhau, tán dương về nhau, bảo vệ nhau bằng mọi giá. Bởi
trong trái tim, trong ánh mắt của họ thì người yêu của mình vẫn là
số một giữa muôn người, là “độc nhất vô nhị” giữa thế gian này.
Diễm Ca đã diễn tả rất sống động và rõ nét điều đó trong hai bài
ca đầu: Chàng khen nàng "người yêu tôi là chùm mộc dược; khóm
móng rồng... nàng đẹp quá bạn tình ơi, đôi mắt nàng là một cạp bồ
câu. Nàng thì khen chàng: ' Anh đẹp, anh tuấn tú làm sao'; người yêu
tôi giữa đoàn trai tráng, như cây táo giữa muôn loài cây rừng;... (Dc 1,
13-2, 17).
Một
tình yêu đôi lứa cao cả và huyền diệu là dám hy sinh cho nhau. Dám hy
sinh cho nhau sẽ làm cho tình yêu trở nên linh thiêng hơn; họ luôn mong
muốn những điều tốt đẹp nhất đến cho người mình yêu dù phải hy sinh
cả bản thân mình, như lời Chúa dạy: "Không có tình yêu nào cao
quý hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình vì người mình
yêu" (Ga 15,13). Nếu người yêu gặp khó khăn, buồn khổ trong cuộc
sống, họ sẽ hy sinh mọi thứ của bản thân để đến chia sẽ và mang lấy
đau khổ của người yêu với mong ước người yêu được vui tươi và hạnh
phúc. Thánh Phaolô đã khuyên bảo "người chồng phải yêu thương vợ
mình" như chính Đức Kitô đã yêu thương và hiến mình vì Hội
Thánh(x.
Một
tình yêu đôi lứa cao cả và chân thành sẽ nhắm đến hôn nhân. Khi tạo
dựng, Chúa đã muốn Ađam và Evà đến với nhau và sinh con đẻ cái cho
đầy mặt đất, có nghĩa rằng hai ông bà sẽ đến với nhau để làm thành
một gia đình gồm người vơ, người chồng và con cái. Bởi thế tình yêu
đôi lứa là nền tảng xây dựng tình yêu hôn nhận gia đình hay tình yêu
vợ chồng. Do đó, tình yêu đôi lứa có vai trò quan trọng và cần thiết
để xây dựng một gia đình hạnh phúc. Không thể có một gia đình hạnh
phúc nếu trong giai đoạn hẹn hò, đôi bạn trẻ không có được một tình
yêu chân thành. Cho nên, khi yêu nhau, đôi bạn trẻ cần trân trọng nhau,
đến với nhau bằng tình yêu chân thành và gìn giữ cho nhau vì hạnh
phúc sau này. Nếu đôi bạn trẻ hiểu nhau và dám hy sinh cho nhau, thì
họ dễ có được một gia đình hạnh phúc. Như vậy, để đôi bạn có thể
nói được: "Tôi thuộc về người tôi yêu dấu/ Người yêu tôi thuộc
trọn về tôi" (Dc 6,3), thì họ cần có được một tình yêu đôi
lứa cao thượng và chân thành.
2/ Thiên Chúa là tình
yêu đã thiết lập hôn ước tình yêu giữa người nam và người nữ
Tình
yêu đôi lứa, một thứ tình yêu vừa là “thuốc bổ” vừa là “thuốc độc”, nó đã làm
hao tổn biết bao nhiêu là công sức, giấy mực? Tuy đã để lại biết bao điều tốt đẹp
nhưng cũng không ít tai họa khổ đau. Ví như Thành Tơroa mất cũng chỉ vì một ả
nô tì, nước Việt mất cũng bởi tại nàng Mỹ Châu; hàng tá câu chuyện được Kinh
Thánh ghi lại: Thánh Vua Đa- vít đã vì bà vợ của Phi-líp mà phạm tội chống lại
Thiên Chúa; Gioan Tẩy Giả bị chém mất đầu cũng chỉ vì mối tình đen tối giữa Vua
Hê-rô-đê và bà Hê-rô-đi-a; Truyền thuyết dân tộc Việt cũng ghi lại hình ảnh cuộc
giao tranh hằng năm giữa anh chàng Sơn Tinh và Thủy tinh cũng chỉ vì một Mỹ
Nương, truyền thuyết Ngưu Lan – Trúc Nữ… Tuy nhiên, cũng bởi những chuyện tình
đẹp mà chúng ta được thưởng thức các tác phẩm như Romeo và Juliet của W.
Shakespeare, truyện Kiều của Nguyễn Du, những áng thơ tình lãng mạn của Hàn Mặc
Tử, Xuân Diệu, Hồ Xuân Hương hay như nụ cười bí ấn của nàng Mônaliza trong
tranh của L.Davinci, thêm vào đó là cả và một kho tàng thi ca, ca dao tục ngữ,
vè, hát đối thể theo dân ca của các dân tộc, quốc gia trên thế giới để ngợi ca
và tôn vinh vẻ đẹp của tình yêu lứa đôi…tất cả như thêu dệt một bức tranh toàn
cảnh của tình yêu.
Ngày
nay, nhân loại đang bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên công nghệ số hóa. Chúng
ta được chứng kiến và thừa hưởng nhiều thành quả các cuộc cách mạng khoa học kỷ
thuật. Cuộc sống đầy đủ hơn, tiện nghi hơn, giàu đẹp hơn… nhưng cũng làm cho ta
trở nên ươn lười hơn, cô đơn hơn và vị kỷ hơn trong mọi hành vi đối với chính
mình và với tha nhân. Trong cái thế giới tân thời bất ổn này thì tình yêu cũng
đã và đang biến thái, đổi mới và trá hình dưới muôn vàn dạng thức. Tình yêu
chuyển đổi thành thương mại hóa. Ai đã từng đọc tiểu thuyết “tình yêu hàng chợ”
của tác giả Nguyễn Đình Lâm, nhà xuất bản Thanh niên, kể về những mối tình “đến rồi đi” trong những khoảnh khắc ngắn
ngủi của tầng lớp công nhân Việt Nam tại Liên Bang Nga, thì có thể thấy rõ một
thực trạng đen tối trong tình trường. Thế giới khắp đó đây, hằng ngày xảy ra
muôn vàn câu chuyện đau lòng do hậu quả của tình yêu bất chính, chiếm đoạt và vị
kỷ. Người ta có thể bằng mọi cách để biến chuyển tình yêu sang một mô típ khác,
mà phần lớn là thiếu sự hiểu biết minh bạch và tường tận về bản chất và giá trị
đích thực của tình yêu. Khối người đồng hóa tình yêu là tình dục; vô số kẻ biến
tình yêu thành hàng hóa, vì họ cho rằng có tiền là có tình yêu; thậm chí có thể
vì nhục thể sắc dục hay vì quyền thế kẻ trên mà người ta không cần đếm xỉa gì đến
tuổi tác, giới tính, nhan sắc, tài năng địa vị. Thêm vào đó là có không ít kẻ
tin vào mối tình sét đánh, hoặc vì ảnh hưởng phim ảnh đồi trụy mà tầng lớp giới
trẻ đã bị tha hóa trong tình yêu chung chạ xác thịt. Lối sống dục vọng nhấn
chìm con người trong vòng nô lệ của chính mình là cái tôi vị kỷ, của “chủ nghĩa
cá nhân”. Bao tội ác chiến tranh, tham nhũng, mua thần bán thánh, giết người cướp
của, khủng bố tràn lan, tội phá thai cũng đang leo thang. Không nói đâu xa, chỉ
ở Việt Nam chúng ta, báo cáo của quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc công bố: Việt Nam
là nước có tệ nạn Phá Thai đứng thứ 3 thế giới, người làm nghề bằng mãi dâm cao
thứ 2 ở Đông Nam Á. Cũng trong guồng xoáy của xã hội nhiêu khê hỗn loạn về mặt
văn hóa, luân lý đạo đức mà rất nhiều người sống như động vật theo lối bầy đàn;
nhiều nhóm hội chơi trò đổi vợ; khối kẻ không cần kết hôn nhưng cũng sinh con;
thậm chí có nhiều kẻ đứng lên đòi quyền tự do yêu đương và kết hôn đồng tính, ấy
thế mà một số lớn nhà cầm quyền cũng nhắm mắt chấp nhận như chẳng có gì là trái
với luân thường đạo lý.
Tình
yêu đôi lứa đích thực, phải là một tình yêu được bắt nguồn từ tình yêu siêu việt,
bất diệt và thủy chung. Khuôn mẫu tình yêu mang tính siêu việt, bất diệt và thủy
chung vĩnh cửu chỉ có nơi Thiên Chúa. Hơn nữa, tình yêu đôi lứa đó phải phù hợp
với những chuẩn mực giá trị đạo đức. Tình yêu chân chính, đích thực giữa hai
người nam - nữ yêu nhau phải luôn hướng về nhau, dâng hiến cho nhau trọn cả xác
hồn, cả đời sống vật chất - tinh thần và tất cả những gì được xem là thiêng
liêng cao quý nhất trong toàn bộ thế giới riêng tư nơi ngôi vị của họ, đồng thời
họ phải hướng tình yêu đó đến bậc sống vợ chồng. Để từ cuộc sống vợ chồng, họ bổ
túc cho nhau và làm giàu cho nhau những khả năng mà tạo hóa đã thông ban cho họ
theo ý định ngàn đời. Tình yêu đó thực sự có hiệu năng khi nó được mặc vào dấu ấn
thiêng liêng cao quý của Đấng Tạo Hóa.
Ý nghĩa tình yêu đôi lứa
trong hôn nhân Kitô giáo.
Trong
niềm tin ki-tô, ý nghĩa tình yêu đôi lứa là một thực tại, hay dấu chỉ diễn tả
tình yêu thiêng liêng, siêu việt, vĩnh cửu trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Một Thiên
Chúa thông hiệp giữa Chúa Cha – Chúa Con và Chúa Thánh Thần; đồng thời tình yêu
đó còn là hình ảnh diễn tả tình yêu đích thực, vĩnh cửu không sẽ chia giữa
Thiên Chúa đối với loài người và giữa Đức Kitô với Giáo Hội là hiền thê của
Ngài[[2]].
Bởi vì, tình yêu giữa vợ chồng trong hôn nhân Kitô giáo được Đức Kitô đóng ấn
khi Ngài thiết lập Bí tích Hôn Phối.
Trong
ngôn ngữ của tình yêu, người ta thường gọi “của anh”, “của em” hay “mình ơi”..
đó là từ thông dụng để chỉ về một mối quan hệ mà họ thuộc trọn về nhau trên
bình diện ngôi vị. Tuy nhiên, trong mức độ tình yêu thì không dừng lại ở chỗ
chiếm đoạt, chiếm hữu hay hưởng thụ như là một sự phục vụ mà nó còn vượt lên
trên tất cả những gì mang tính trần tục, thế gian. Đó là một sự trao dâng và hiến
tặng nhưng để đi đến một thực tại khác đó là có được hạnh phúc lâu bền.
Ta
thử so sánh hai thái độ hoàn toàn trái ngược nhau được Thánh Kinh ghi lại:
Trong sách sáng thế chương 3, Thiên Chúa phán với người phụ nữ: “ngươi sẽ thèm
muốn chồng người và nó sẽ thống trị ngươi”(St 3,16). Sự thèm muốn này tuy nó
mang cả ý nghĩa về sự thèm muốn nhục dục, nhưng sự thèm muốn đó đã được hợp thức
hóa, nơi sự thống trị của người chồng trên người vợ. Eva đã phục tùng chồng là
Adam và cả hai đã nên vợ chồng. Còn trong Tin Mừng Mat-thêu, Chúa Giêsu nói:
“ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì đã phạm tội ngoại tình với người ấy”(Mt
5,28). Đây là sự thèm muốn của người đàn ông về người phụ nữ khi hai người chưa
có hôn ước nào giữa họ, khi đó sự thèm muốn sẽ là tội.
Rõ
ràng tình yêu phải được gắn với đời sống hôn nhân, nghĩa là cả hai người nam nữ
yêu nhau thì phải hướng đến một cộng đoàn gia đình, một tổ ấm hạnh phúc. Sách
Giáo lý công giáo ghi rõ: “tình yêu vợ chồng bao gồm một tổng thể, trong đó có
đủ mọi yếu tố cấu nên ngôi vị: tiếng gọi của thể xác và bản năng, sức mạnh của
cảm tính và lòng yêu mến, khát vọng của tinh thần và ý chí; tình yêu thương ấy
nhắm đến một sự hiệp nhất sâu xa về ngôi vị không chỉ là sự kết hợp thành một
thân xác, nhưng là sự hiệp nhất đến độ chỉ còn một trái tim, một linh hồn, bất
khả phân ly và trung tín trao hiến cách dứt khoát, mở ngỏ cho việc sinh sản” [[3]].
Nghĩa là tình yêu nam – nữ đó phải hướng đến đời sống hôn nhân, cùng sinh con
cái và giáo dục chúng một cách có trách nhiệm trước mặt Thiên Chúa và Giáo Hội.
Việc sinh con là diễm phúc họ được cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên
Chúa. Giáo dục con cái lớn lên trong đức tin là bổn phận và trách nhiệm của gia
đình họ đang gánh vác. Hiến thân cho nhau đó là một hành vi biểu hiện sự hòa hợp,
sự trao ban trọn vẹn như hành động hiến tế. Chính Đức Kitô đã hiến mình vì Giáo
Hội, Ngài không chỉ hy sinh tính mạng, hiến tế chính mình để hàn gắn lại mối hiệp
thông bị Nguyên tổ phá vở. Ngài còn hiến mình cho nhân loại trong Bí tích Thánh
Thể, Ngài tự nguyện trở nên lương thực nuôi sống linh hồn loài người ta. Chính
Đức Kitô còn là Ngôi Lời nhập thể, Lời hằng sống cho con người. Sự hiến dâng
chính mình cho Giáo Hội là một dấu chỉ đồng thời là lời mời gọi cho nhân loại sống
mầu nhiệm tình yêu ấy trong cuộc đời. Thánh Phaolô khuyến: Người chồng phải yêu
thương vợ mình như Đức Ki tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh;
người vợ phải phục tùng chồng trong mọi sự như vậy(x. Ep 5,24-25).
[1]
X. Lời Chúa cho mọi người, Phần
dẫn nhập sách Diễm Ca, nhóm phiên dịch các giờ kinh phụng
vụ dịch
[2] Tad Guzie, người dịch lm Đaminh Nguyễn Đức Thông, Căn bản Bí tích, Học Viện DCCT Sài Gòn
2002. 333-334.
[3] Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 1643. (Tông huấn
gia đình số 13).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét