Thứ Ba, 4 tháng 10, 2016

TÌNH YÊU ! MỘT VÀI SUY TƯ

Dẫn nhập
Tình yêu là đề tài muôn thuở, là một thực tại rất đỗi quan trọng gây nguồn cảm hứng sáng tác cho giới nghệ thuật từ cổ chí kim. Nói đến tình yêu như là nói đến một thực tại huyền nhiệm không ai hiểu thấu nhưng chẳng hề xa lạ đối với bất cứ con người nào. Người ta chỉ có thể ví tình yêu như là hơi thở của cuộc sống con người, nếu còn tình yêu thì còn sự sống mà mất tình yêu là mất hẳn đi sự sống đích thực nơi con người. Có thể nói rằng, chẳng ai có thể hiểu rõ được tận căn, ngọn nguồn của tình yêu, cũng chẳng ai dễ dàng cắt nghĩa được nó. “Có ai định nghĩa được tình yêu”?(Xuân Diệu). Tuy nhiên, không phải vì tình yêu là một huyền nhiệm mà chúng ta không thể không biết được gì về nó, trái lại là con người, ai trong chúng ta cũng đã hơn một lần chạm đến tình yêu, vì chúng ta sống chung và luôn sống trong tình yêu. Vậy chắc chắn chúng ta đã hiểu biết ít nhiều về tình yêu. Nhưng chúng ta phải hiểu như thế nào? để hằng ngày, trong cuộc sống tương quan với con người, với thế giới, với thiên nhiên và với Thiên Chúa, ta biết diễn tả tình yêu đó cách hợp lý, đúng đắn và hiệu quả nhất.
Thánh Gioan Tông Đồ đã định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu”(1 Ga 4,8), và vì yêu thương nên đã mạc khải mầu nhiệm tình yêu ấy cho con người, để con người có khả năng thông hiệp với Ngài, nhờ đó mà được sống và được sống hạnh phúc. Quả thế, Thiên Chúa đã sáng tạo con người và đã ghi dấu ấn của Ngài vào con người, bằng cách sáng tạo con người có nam, có nữ và cho con người trở nên giống hình ảnh Ngài(x. St 1, 27). Hình ảnh đó phản chiếu tình yêu Thiên Chúa bằng sự hiệp thông thần linh giữa các ngôi vị. Nghĩa là, Con người đã trở nên hình ảnh và họa ảnh của Thiên Chúa nhờ sự hiệp thông ngôi vị giữa người nam và người nữ nữa. Theo sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số 1602 có ghi rằng: “từ đầu đến cuối, Kinh Thánh nói về hôn nhân và mầu nhiệm hôn nhân, về việc thiết lập và ý nghĩa mà Thiên Chúa đã ban cho nó, về nguồn gốc và mục đích của hôn nhân, về những biến chuyển qua dòng lịch sử cứu độ, về những khó khăn do tội và việc canh tân trong Chúa (1 Cr 7,39), trong Giáo Ước Mới giữa Đức Kitô và Hội Thánh”. Cụ thể hơn, đó là việc Thiên Chúa đã thiết lập và ban định luật riêng cho đời sống hôn nhân và cho cộng đoàn tình yêu vợ chồng. Như thế, chính Thiên Chúa là Đấng tác tạo hôn nhân. Cuộc tác tạo hôn nhân đó vừa mang tính hữu hình vừa diễn tả một thực tại linh thánh vô hình. Đọc Kinh Thánh, cụ thể trong sách Diễm Ca, chúng ta cũng đã có câu trả lời, dù rằng câu trả lời đó chưa phải là thỏa đáng, nhưng cũng là một bằng chứng xác đáng để chúng ta nói về một tình yêu huyền nhiệm, một tình yêu cao đẹp giữa con người là thụ tạo với Đấng Tạo Hóa là chính Thiên Chúa. Qua đó, cho ta thấy sự cần thiết của người kitô hữu trong sự nổ lực đáp trả tình yêu mà chính Thiên Chúa đã khởi sự và đi bước trước khi dành tặng tình yêu của Ngài cách đă’c biệt cho con người.
1/ Hình ảnh tình yêu đôi lứa trong sách Diễm ca
Việt Nam ta có một câu ca dao thật đẹp và đáng nhớ: "Yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua". Câu ca thật đẹp vì nó đã nói lên được giá trị cao quý của tình yêu nam nữ; cụ thể hơn qua tình yêu đôi lứa. Tình yêu đôi lứa là chủ đề cho các nghệ sĩ sáng tạo ra biết bao bài hát, bức hoạ, bài thơ và những áng văn tuyệt vời. Dường như tình yêu đôi lứa đã làm cho cuộc đời này tươi đẹp và phong phú hơn.
Trong Cựu Ước, các ngôn sứ đã vay mượn ngôn ngữ tình yêu lứa đôi, tình yêu nhân loại để diễn tả kinh nghiệm của mình về một tương quan đặc tuyển với Thiên Chúa, tương quan mà một ngày nào đó sẽ được trao tặng cho toàn thể Israel. Tình yêu nam nữ được diễn tả trong sách Diễm ca, là một tình yêu hết sức thơ mộng, tuyệt mỹ, đầy kịch tính và hấp dẫn. Câu chuyện tình Chàng và Nàng gợi nhớ những kinh nghiệm riêng tư làm đánh động trái tim độc giả. Đây là áng văn thơ về lứa đôi gặp nhau, mục đích của tác giả là đưa cuộc gặp gỡ này vào trong mơ, để từ từ vén bức màn tỏ lộ bí nhiệm ẩn dấu bên trong[1]. Trong lúc thả hồn bay bổng theo giấc mộng yêu đương, tác giả sách Diễm Ca nghiệm lại niềm hy vọng của dân được Chúa chọn. Hình ảnh Nàng của Thiên Chúa trước hết đó là dân Israel, dân được Thiên Chúa chọn và ban cho đất hứa, Đấng là tình quân mà dân đón đợi, đó chính là hình ảnh Đấng Mê-si-a.
Đối với một Kitô hữu, tình yêu đôi lứa thật đẹp và đáng tôn trọng vì nó đã phản ánh phần nào về tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Tình yêu này chỉ thật sự đẹp và cao trọng khi được đặt trong tương quan với Chúa; chính Chúa đã mời gọi và hơn thế nữa Ngài là sợi chỉ thắt chặt đôi bạn trẻ với nhau; nếu không có sự tương quan với Chúa, tình yêu đôi lứa sẽ không bền vững. Có thể không ngần ngại khi nhấn mạnh được rằng: Thiên Chúa đã si tình, mãi mê đi tìm một thụ tạo do chính tay Ngài tạo dựng nên để yêu, để thủ thỉ, để phối hợp trong cuộc tình linh thánh. Cuộc tình này kéo dài từ khởi thủy cho đến cánh chung, nghĩa là qua mọi thời và muôn thế hệ, Thiên Chúa vẫn mãi đi tìm và cứu vớt con người như một kẻ si tình đi tình kiếm thụ tạo do chính Ngài tạo dựng nhưng trong tư cách của "Phu Quân" đi tìm cưới "Hôn Thê" của mình. Tình yêu tuyệt diệu mà Thiên Chúa đã dành tặng con người là quá sức tưởng tượng và vượt hẳn trí hiểu của con người, tình yêu đó có sức mạnh quyến rũ vượt hẳn tình yêu giữa chàng và nàng, "thảo nào các thiếu nữ mê say mộ mến"(Dc 1,3). Hình ảnh các thiếu nữ ở đây phải chăng là hình ảnh ví von dành cho các vị thánh, tâm hồn những con người say mê Thiên Chúa thực sự. Các ngài có lòng mến yêu, mong được kết hiệp với Thiên Chúa như người thiếu nữ khát mong gặp được Đấng Tình Quân của mình: "Hãy kéo em theo anh, đôi ta cùng nhau bước"(Dc 1,4). Để một khi con người được kết hiệp với Thiên Chúa, tình quân của mình thì Thiên Chúa sẽ là "hoan lạc vui sướng" của linh hồn con người.
Thế nhưng làm sao để linh hồn con người có được sự chắc chắn, làm sao chiếm được Thiên Chúa và làm sao để trái tim con người thuộc trọn về Ngài? Một đàng, 'nàng vẫn mãi mê tìm kiếm chàng, một đàng 'nàng'’lại không chịu canh giữ và dành trọn tâm hồn mình cho chàng, bằng chứng là chỗ: "vườn nho của tôi, tôi không canh giữ". Hình ảnh vườn nho không được chủ nhân canh giữ có thể hiểu được như là tâm hồn của người tín hữu, cũng có thể là họa ảnh về lòng trung thành, sự chung thủy của dân Ít-ra-en. Đã thiếu cảnh giác và canh giữ mình, nên dân Chúa đã để cho tà thần quấy phá, rất nhiều lần vườn nho ấy bị dân ngoại dày xéo: " trâu rừng vào phá phác, dả thú gặm tang hoang"... Việc Ít-ra-en thờ thần ngoại bang, thờ ngẫu tượng và chống đối lại các ngôn sứ, tiên tri đã lặp đi lặp lại rất nhiều lần trong suốt chiều dài lịch sử cứu độ, đó chính là biểu hiện của sự bất trung, thiếu chung thủy...
Một tình yêu đôi lứa chỉ cao cả và huyền diệu khi họ thực sự đến với nhau bằng con tim chân thành, sẵn sàng chia sẽ cho nhau những niềm vui nỗi buồn trong cuộc sống, và họ luôn mong những điều tốt đẹp nhất cho người yêu. Chỉ cần người nam được nhìn thấy người nữ hay người nữ nhìn thấy người nam là họ đã vui tươi hớn hở. Còn khi vắng nhau, họ ca ngợi nhau, tán dương về nhau, bảo vệ nhau bằng mọi giá. Bởi trong trái tim, trong ánh mắt của họ thì người yêu của mình vẫn là số một giữa muôn người, là “độc nhất vô nhị” giữa thế gian này. Diễm Ca đã diễn tả rất sống động và rõ nét điều đó trong hai bài ca đầu: Chàng khen nàng "người yêu tôi là chùm mộc dược; khóm móng rồng... nàng đẹp quá bạn tình ơi, đôi mắt nàng là một cạp bồ câu. Nàng thì khen chàng: ' Anh đẹp, anh tuấn tú làm sao'; người yêu tôi giữa đoàn trai tráng, như cây táo giữa muôn loài cây rừng;... (Dc 1, 13-2, 17).
Một tình yêu đôi lứa cao cả và huyền diệu là dám hy sinh cho nhau. Dám hy sinh cho nhau sẽ làm cho tình yêu trở nên linh thiêng hơn; họ luôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất đến cho người mình yêu dù phải hy sinh cả bản thân mình, như lời Chúa dạy: "Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu" (Ga 15,13). Nếu người yêu gặp khó khăn, buồn khổ trong cuộc sống, họ sẽ hy sinh mọi thứ của bản thân để đến chia sẽ và mang lấy đau khổ của người yêu với mong ước người yêu được vui tươi và hạnh phúc. Thánh Phaolô đã khuyên bảo "người chồng phải yêu thương vợ mình" như chính Đức Kitô đã yêu thương và hiến mình vì Hội Thánh(x.
Một tình yêu đôi lứa cao cả và chân thành sẽ nhắm đến hôn nhân. Khi tạo dựng, Chúa đã muốn Ađam và Evà đến với nhau và sinh con đẻ cái cho đầy mặt đất, có nghĩa rằng hai ông bà sẽ đến với nhau để làm thành một gia đình gồm người vơ, người chồng và con cái. Bởi thế tình yêu đôi lứa là nền tảng xây dựng tình yêu hôn nhận gia đình hay tình yêu vợ chồng. Do đó, tình yêu đôi lứa có vai trò quan trọng và cần thiết để xây dựng một gia đình hạnh phúc. Không thể có một gia đình hạnh phúc nếu trong giai đoạn hẹn hò, đôi bạn trẻ không có được một tình yêu chân thành. Cho nên, khi yêu nhau, đôi bạn trẻ cần trân trọng nhau, đến với nhau bằng tình yêu chân thành và gìn giữ cho nhau vì hạnh phúc sau này. Nếu đôi bạn trẻ hiểu nhau và dám hy sinh cho nhau, thì họ dễ có được một gia đình hạnh phúc. Như vậy, để đôi bạn có thể nói được: "Tôi thuộc về người tôi yêu dấu/ Người yêu tôi thuộc trọn về tôi" (Dc 6,3), thì họ cần có được một tình yêu đôi lứa cao thượng và chân thành.
2/ Thiên Chúa là tình yêu đã thiết lập hôn ước tình yêu giữa người nam và người nữ
Tình yêu đôi lứa, một thứ tình yêu vừa là “thuốc bổ” vừa là “thuốc độc”, nó đã làm hao tổn biết bao nhiêu là công sức, giấy mực? Tuy đã để lại biết bao điều tốt đẹp nhưng cũng không ít tai họa khổ đau. Ví như Thành Tơroa mất cũng chỉ vì một ả nô tì, nước Việt mất cũng bởi tại nàng Mỹ Châu; hàng tá câu chuyện được Kinh Thánh ghi lại: Thánh Vua Đa- vít đã vì bà vợ của Phi-líp mà phạm tội chống lại Thiên Chúa; Gioan Tẩy Giả bị chém mất đầu cũng chỉ vì mối tình đen tối giữa Vua Hê-rô-đê và bà Hê-rô-đi-a; Truyền thuyết dân tộc Việt cũng ghi lại hình ảnh cuộc giao tranh hằng năm giữa anh chàng Sơn Tinh và Thủy tinh cũng chỉ vì một Mỹ Nương, truyền thuyết Ngưu Lan – Trúc Nữ… Tuy nhiên, cũng bởi những chuyện tình đẹp mà chúng ta được thưởng thức các tác phẩm như Romeo và Juliet của W. Shakespeare, truyện Kiều của Nguyễn Du, những áng thơ tình lãng mạn của Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Hồ Xuân Hương hay như nụ cười bí ấn của nàng Mônaliza trong tranh của L.Davinci, thêm vào đó là cả và một kho tàng thi ca, ca dao tục ngữ, vè, hát đối thể theo dân ca của các dân tộc, quốc gia trên thế giới để ngợi ca và tôn vinh vẻ đẹp của tình yêu lứa đôi…tất cả như thêu dệt một bức tranh toàn cảnh của tình yêu.    
Ngày nay, nhân loại đang bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên công nghệ số hóa. Chúng ta được chứng kiến và thừa hưởng nhiều thành quả các cuộc cách mạng khoa học kỷ thuật. Cuộc sống đầy đủ hơn, tiện nghi hơn, giàu đẹp hơn… nhưng cũng làm cho ta trở nên ươn lười hơn, cô đơn hơn và vị kỷ hơn trong mọi hành vi đối với chính mình và với tha nhân. Trong cái thế giới tân thời bất ổn này thì tình yêu cũng đã và đang biến thái, đổi mới và trá hình dưới muôn vàn dạng thức. Tình yêu chuyển đổi thành thương mại hóa. Ai đã từng đọc tiểu thuyết “tình yêu hàng chợ” của tác giả Nguyễn Đình Lâm, nhà xuất bản Thanh niên, kể về những mối tình “đến rồi đi” trong những khoảnh khắc ngắn ngủi của tầng lớp công nhân Việt Nam tại Liên Bang Nga, thì có thể thấy rõ một thực trạng đen tối trong tình trường. Thế giới khắp đó đây, hằng ngày xảy ra muôn vàn câu chuyện đau lòng do hậu quả của tình yêu bất chính, chiếm đoạt và vị kỷ. Người ta có thể bằng mọi cách để biến chuyển tình yêu sang một mô típ khác, mà phần lớn là thiếu sự hiểu biết minh bạch và tường tận về bản chất và giá trị đích thực của tình yêu. Khối người đồng hóa tình yêu là tình dục; vô số kẻ biến tình yêu thành hàng hóa, vì họ cho rằng có tiền là có tình yêu; thậm chí có thể vì nhục thể sắc dục hay vì quyền thế kẻ trên mà người ta không cần đếm xỉa gì đến tuổi tác, giới tính, nhan sắc, tài năng địa vị. Thêm vào đó là có không ít kẻ tin vào mối tình sét đánh, hoặc vì ảnh hưởng phim ảnh đồi trụy mà tầng lớp giới trẻ đã bị tha hóa trong tình yêu chung chạ xác thịt. Lối sống dục vọng nhấn chìm con người trong vòng nô lệ của chính mình là cái tôi vị kỷ, của “chủ nghĩa cá nhân”. Bao tội ác chiến tranh, tham nhũng, mua thần bán thánh, giết người cướp của, khủng bố tràn lan, tội phá thai cũng đang leo thang. Không nói đâu xa, chỉ ở Việt Nam chúng ta, báo cáo của quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc công bố: Việt Nam là nước có tệ nạn Phá Thai đứng thứ 3 thế giới, người làm nghề bằng mãi dâm cao thứ 2 ở Đông Nam Á. Cũng trong guồng xoáy của xã hội nhiêu khê hỗn loạn về mặt văn hóa, luân lý đạo đức mà rất nhiều người sống như động vật theo lối bầy đàn; nhiều nhóm hội chơi trò đổi vợ; khối kẻ không cần kết hôn nhưng cũng sinh con; thậm chí có nhiều kẻ đứng lên đòi quyền tự do yêu đương và kết hôn đồng tính, ấy thế mà một số lớn nhà cầm quyền cũng nhắm mắt chấp nhận như chẳng có gì là trái với luân thường đạo lý.
Tình yêu đôi lứa đích thực, phải là một tình yêu được bắt nguồn từ tình yêu siêu việt, bất diệt và thủy chung. Khuôn mẫu tình yêu mang tính siêu việt, bất diệt và thủy chung vĩnh cửu chỉ có nơi Thiên Chúa. Hơn nữa, tình yêu đôi lứa đó phải phù hợp với những chuẩn mực giá trị đạo đức. Tình yêu chân chính, đích thực giữa hai người nam - nữ yêu nhau phải luôn hướng về nhau, dâng hiến cho nhau trọn cả xác hồn, cả đời sống vật chất - tinh thần và tất cả những gì được xem là thiêng liêng cao quý nhất trong toàn bộ thế giới riêng tư nơi ngôi vị của họ, đồng thời họ phải hướng tình yêu đó đến bậc sống vợ chồng. Để từ cuộc sống vợ chồng, họ bổ túc cho nhau và làm giàu cho nhau những khả năng mà tạo hóa đã thông ban cho họ theo ý định ngàn đời. Tình yêu đó thực sự có hiệu năng khi nó được mặc vào dấu ấn thiêng liêng cao quý của Đấng Tạo Hóa.
Ý nghĩa tình yêu đôi lứa trong hôn nhân Kitô giáo.
Trong niềm tin ki-tô, ý nghĩa tình yêu đôi lứa là một thực tại, hay dấu chỉ diễn tả tình yêu thiêng liêng, siêu việt, vĩnh cửu trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Một Thiên Chúa thông hiệp giữa Chúa Cha – Chúa Con và Chúa Thánh Thần; đồng thời tình yêu đó còn là hình ảnh diễn tả tình yêu đích thực, vĩnh cửu không sẽ chia giữa Thiên Chúa đối với loài người và giữa Đức Kitô với Giáo Hội là hiền thê của Ngài[[2]]. Bởi vì, tình yêu giữa vợ chồng trong hôn nhân Kitô giáo được Đức Kitô đóng ấn khi Ngài thiết lập Bí tích Hôn Phối.
Trong ngôn ngữ của tình yêu, người ta thường gọi “của anh”, “của em” hay “mình ơi”.. đó là từ thông dụng để chỉ về một mối quan hệ mà họ thuộc trọn về nhau trên bình diện ngôi vị. Tuy nhiên, trong mức độ tình yêu thì không dừng lại ở chỗ chiếm đoạt, chiếm hữu hay hưởng thụ như là một sự phục vụ mà nó còn vượt lên trên tất cả những gì mang tính trần tục, thế gian. Đó là một sự trao dâng và hiến tặng nhưng để đi đến một thực tại khác đó là có được hạnh phúc lâu bền.
Ta thử so sánh hai thái độ hoàn toàn trái ngược nhau được Thánh Kinh ghi lại: Trong sách sáng thế chương 3, Thiên Chúa phán với người phụ nữ: “ngươi sẽ thèm muốn chồng người và nó sẽ thống trị ngươi”(St 3,16). Sự thèm muốn này tuy nó mang cả ý nghĩa về sự thèm muốn nhục dục, nhưng sự thèm muốn đó đã được hợp thức hóa, nơi sự thống trị của người chồng trên người vợ. Eva đã phục tùng chồng là Adam và cả hai đã nên vợ chồng. Còn trong Tin Mừng Mat-thêu, Chúa Giêsu nói: “ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì đã phạm tội ngoại tình với người ấy”(Mt 5,28). Đây là sự thèm muốn của người đàn ông về người phụ nữ khi hai người chưa có hôn ước nào giữa họ, khi đó sự thèm muốn sẽ là tội.
Rõ ràng tình yêu phải được gắn với đời sống hôn nhân, nghĩa là cả hai người nam nữ yêu nhau thì phải hướng đến một cộng đoàn gia đình, một tổ ấm hạnh phúc. Sách Giáo lý công giáo ghi rõ: “tình yêu vợ chồng bao gồm một tổng thể, trong đó có đủ mọi yếu tố cấu nên ngôi vị: tiếng gọi của thể xác và bản năng, sức mạnh của cảm tính và lòng yêu mến, khát vọng của tinh thần và ý chí; tình yêu thương ấy nhắm đến một sự hiệp nhất sâu xa về ngôi vị không chỉ là sự kết hợp thành một thân xác, nhưng là sự hiệp nhất đến độ chỉ còn một trái tim, một linh hồn, bất khả phân ly và trung tín trao hiến cách dứt khoát, mở ngỏ cho việc sinh sản” [[3]]. Nghĩa là tình yêu nam – nữ đó phải hướng đến đời sống hôn nhân, cùng sinh con cái và giáo dục chúng một cách có trách nhiệm trước mặt Thiên Chúa và Giáo Hội. Việc sinh con là diễm phúc họ được cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Giáo dục con cái lớn lên trong đức tin là bổn phận và trách nhiệm của gia đình họ đang gánh vác. Hiến thân cho nhau đó là một hành vi biểu hiện sự hòa hợp, sự trao ban trọn vẹn như hành động hiến tế. Chính Đức Kitô đã hiến mình vì Giáo Hội, Ngài không chỉ hy sinh tính mạng, hiến tế chính mình để hàn gắn lại mối hiệp thông bị Nguyên tổ phá vở. Ngài còn hiến mình cho nhân loại trong Bí tích Thánh Thể, Ngài tự nguyện trở nên lương thực nuôi sống linh hồn loài người ta. Chính Đức Kitô còn là Ngôi Lời nhập thể, Lời hằng sống cho con người. Sự hiến dâng chính mình cho Giáo Hội là một dấu chỉ đồng thời là lời mời gọi cho nhân loại sống mầu nhiệm tình yêu ấy trong cuộc đời. Thánh Phaolô khuyến: Người chồng phải yêu thương vợ mình như Đức Ki tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; người vợ phải phục tùng chồng trong mọi sự như vậy(x. Ep 5,24-25).



[1] X. Lời Chúa cho mọi người, Phần dẫn nhập sách Diễm Ca,  nhóm phiên dịch các giờ kinh phụng vụ dịch
[2] Tad Guzie, người dịch lm Đaminh Nguyễn Đức Thông, Căn bản Bí tích, Học Viện DCCT Sài Gòn 2002. 333-334.
[3] Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 1643. (Tông huấn gia đình số 13).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét