Chúng ta biết, ngay từ
sơ khai, Hội Thánh Công Giáo đã trải qua 300 năm bị bách hại dưới thời các
hoàng đế Lamã. Cuộc bách hại trường kỳ đó đã khiến các tín hữu phải trốn tránh dưới
lòng đất bằng những hang hầm, được gọi là hang toại đạo[1].
Có một sự trùng hợp kỳ diệu là Giáo hội Việt Nam cũng trải qua một thời gian
300 năm (từ cuối thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX), bị các vua chúa phong kiến
bách hại và cũng có những cảnh các giáo sĩ phải đào hầm trú ẩn, hoặc cùng với
tín hữu vào rừng sâu, hay xuống các khoang thuyền… để rao giảng Tin Mừng.
Những cuộc bách hại khủng khiếp đó đã không tiêu diệt được Giáo Hội, trái lại,
còn làm cho Giáo Hội không ngừng tăng trưởng. Đó là bằng chứng xác
thực Giáo Hội là của Chúa. Chủng Viện đầu tiên của Việt Nam là dùng
khoang thuyền của các thầy giảng để đào tạo, nó tương tự như một
hình thức đào hầm hoạt động. Đối với tôi, đó là hình ảnh rất đẹp,
rất ấn tượng; là dấu chỉ, món quà tuyệt diệu Thiên Chúa gửi đến cho
tôi. Từ đó, giúp tôi có thêm động lực theo đuổi lý tưởng sống đời độc
thân linh mục cách khiêm hạ, khó nghèo, nhưng quyết liệt hơn. Vì thế,
trong bài viết này, tôi muốn trình bày một cách ngắn gọn điều mà
tôi cảm nhận được.
Chúng ta biết, Giáo hội Việt Nam trong những ngày đầu khai sinh
chưa có Đại chủng viện nào. Trong khi nhu cầu truyền giáo thì quá lớn, lực
lượng các thừa sai lại quá ít ỏi, nhiều khi còn thiếu vắng, các ngài đã
có sáng kiến lập ra tổ chức Thầy Giảng, là những người đạo đức và có trình độ,
để giúp các ngài trong một số công việc như dạy kinh bổn, đưa Mình Thánh Chúa,
phụ giúp các thừa sai trong việc loan báo Tin mừng. Sáng kiến này có
lẽ phát sinh nhờ vào việc các ngài biết chia sẻ trách nhiệm truyền
giáo với giáo dân, một trong những thành công của thủ thuật truyền
giáo. Sáng kiến độc đáo này đã đánh dấu khởi sắc một vụ mùa bội
thu trong công tác truyền giáo buổi đầu của các Cha Dòng Tên tại Việt
Nam. Dĩ nhiên, ngoài việc làm này, các thừa sai còn có những thành
tích khác như hội nhập văn hóa, phương thức tiếp cận dân bản địa...
Chính các thừa sai cũng nhận
thấy rằng, đời sống đạo của một vùng miền, bản quốc chỉ có thể vững vàng và
có sức phát triển mạnh khi nó được chính hàng giáo sĩ bản xứ điều hành, vì hơn
ai hết, họ am tường tập quán văn hóa địa phương. Nên từ hình thức tổ chức Thầy
giảng, các ngài phát triển lên thành tổ chức Nhà Đức Chúa Trời. Từ môi trường
này, các thừa sai sẽ tuyển lựa những người có triển vọng, gởi sang học tập và
tu dưỡng tại Chủng viện Miền, để tiến đến chức linh mục. (Chủng viện miền được
mở tại Juthia, kinh đô cũ của vương quốc Thái Lan năm 1665, chung cho cả Việt
Nam, Campuchia và Trung Quốc. Như vậy, có thể nói, tổ chức Thầy giảng và Nhà
Đức Chúa Trời là những hình thức chủng viện sơ khai tại Việt Nam. Với thời gian
và do sự lớn mạnh của Giáo Hội Việt Nam, việc cần có các cơ sở đào tạo tại chỗ,
nghĩa là các cơ sở chủng viện được tổ chức một cách quy cũ ngày càng trở nên
bức thiết. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ hết sức khó
khăn, việc vua chúa cấm cách, bách hại đạo, truy lùng và tìm cách
trục xuất các thừa sai. Khiến cho việc xây dựng cơ sở vật chất để
đào tạo hàng giáo sĩ là dường như không thể. Việc “tương kế tựu
kế”, sáng kiến các nhà thừa sai là dùng chính khoang thuyền của các
thầy giảng, để giảng dạy triết học, thần học cũng như trau dồi
những khả năng chuyên môn và các đức tính cần thiết cho hàng giáo sĩ
và giáo phẩm tương lai của Việt Nam. Bởi công việc huấn luyện và
thành lập giáo sĩ bản địa và tiến đến thành lập hàng giáo phẩm
bản quốc là một trong những nguyên tắc quan trọng được đặt ra trong
địa bàn truyền giáo[2].
Vâng lời Đức Cha Lambert de
la Motte, ngày 20 tháng 6 năm 1666, Cha Chính Francois Deydier với giấy
ủy nhiệm, ngài xuống thuyền đi Đàng Ngoài[3].
Đến đây, việc làm đầu tiên là Ngài tìm gặp các thầy giảng. (Theo Cha
Marini, năm 1663 có độ 70 thầy)... sau khi gặp được con số tám thầy và
các thầy trẻ, thì Cha Chính Fr. Deydier tiến hành cấm phòng, hội
thảo kéo dài (12-15/10/1666), rồi cấp tốc bắt tay vào việc thành lập
ngay hàng giáo sĩ Việt Nam. Việc làm này đánh dấu mốc lịch sử vô
cùng quan trọng đối với lịch sử hàng giáo sĩ Việt Nam. Từ đây, chủng
viện đầu tiên của Đàng Ngoài và cũng là chủng viện đầu tiên của
Việt Nam khai sinh. Con số các thầy được chọn để đào tạo ban đầu dù rất
ít ỏi (15 thầy); và dù cơ sở của Chủng Viện chỉ là chiếc
thuyền trôi nổi trên dòng sông, bất chấp mọi khó khăn gian khổ buổi đầu, Đại
Chủng Viện ấy cũng đã có được những hoa trái đầu tiên là cha Bênêdictô Hiền(54
tuổi) và cha Gioan Huệ(47 tuổi) được chịu chức tại juthia Thái Lan
(8/6/1668).
Nếu ví Chủng Viện là
một vườn ươm, thì chủng sinh là cây ươm trong vườn. Cây ươm sẽ trở thành thứ
cây trưởng thành, lớn mạnh, và sinh hoa kết trái cách dồi dào, để rồi
tỏa ngát hương và che rợp bóng mát cho khu vườn. Như thế, Chủng viện là môi
trường để người chủng sinh trau dồi các nhân đức và lãnh hội những kiến thức
quý báu cho sứ vụ mai sau. Trong thời gian tu học tại Chủng Viện, người chủng
sinh phải để Chúa gọt đẻo những gì sần sùi, mang tính trần thế nơi con người
của mình qua tay nhưng người thợ là các giáo sư, để ngày càng trưởng
thành và hoàn thiện hơn. Quá trình huấn luyện, chủng sinh được ví như
hòn đất trong tay người thợ gốm (x. Gr
18,6). Chủng sinh được mời gọ đến ở với Chúa, để được Ngài huấn luyện, thông
đạt tri thức như hai môn đệ của Gioan xưa đã theo Chúa và đến ở với
Ngài(x. Ga 1,39). Việc ở lại với
Chúa nói lên mối tương quan gần gũi, thân tình giữa người chủng sinh với
Chúa. Đó là một tương quan hết sức mật thiết không gì có thể chia tách( x. Rm 8, 39). Chủng sinh được đào
tạo cả về (nhân bản, tri thức, đạo đức và mục vụ)[4],
cũng như các Tông đồ ngày xưa (khóa chủng sinh đầu tiên được Chúa trực tiếp
đào tạo), nhờ Chúa huấn luyện, các ngài đã trở nên những người bạn chí
thiết của Chúa Giêsu, đến nỗi họ đã dám xả thân vì Ngài. Hơn nữa, các Tông đồ
biến đổi con người của mình một cách toàn diện: Từ những con người "dốt
nát” trở nên những người thông thái; từ những con người nhút nhát trở nên những
người can đảm; từ những con người với dự tính và đam mê sự trần thế, các ngài
đã trở nên những người sống theo thần thiêng.
Thời gian học tại Chủng viện của chủng
sinh là thời gian ở và sống với Chúa để Chúa đào tạo sau đó Ngài sai đi. Như chính Chúa Giêsu cũng hằng gặp gỡ với
Chúa Cha trong những giờ cầu nguyện[5]…
Thế thì chúng ta thử
hình dung xem, giữa cảnh sông nước, việc sống với Chúa của các chủng
sinh Việt Nam đầu tiên sẽ thế nào, quả đúng là khó khăn không thể
nào diễn tả, nhưng các thầy vẫn kiên tâm đến cùng. Điều mà ta thường
suy nghĩ và nhận định theo cảm tính, không có thời gian cầu nguyện
với Chúa nơi Thánh Đường thì làm sao có thể nói là họ hoạt động
trong Chúa. Nhưng với các thầy giảng, những chủng sinh đầu tiên của
Trường Chúa Thánh Thần nơi khoang thuyền hẳn là rất đặc biệt. Chắc
chắn các thầy phải có một lòng yêu mến Chúa và Giáo Hội cách đặc
biệt, phải có một tình bạn thân tình sâu sắc với Chúa thì mới có
được đủ nghị lực, sức mạnh để chấp nhận tu học nơi một chủng viện
như vậy. Một chủng viện mà dù là ngày hay đêm lênh đênh trên sóng
nước... Hình ảnh đó, phải chăng cũng là một dấu chỉ để các thầy
cảm nghiệm và đón nhận nghịch cảnh của Con Thuyền Giáo Hội Việt Nam
nói riêng và Con Thuyền Giáo Hội hoàn vũ nói chung, trong từng giây
phút lênh đênh trên biển đời trần gian. Chỉ những ai đích thực là dân
làng chài, đánh cá, mới có thể cảm nhận được, thấm thía được nỗi
cực khổ “lênh đênh suốt đời trên sóng nước” của các thầy. Nhiều khi
ngồi ăn bát cơm cũng không ngon, vì gió thổi mạnh, sóng dữ tợn làm
thuyền chao đảo, đó là chưa nói đến khó khăn về những sinh hoạt
khác. Chúng ta thử tưởng tượng khi các thầy ngồi học, làm sao mà
viết được nếu sóng to gió lớn? Làm sao mà đọc sách nếu gặp cảnh
trời mưa, đêm tối không ánh sáng... lại còn bị cấm cách, bị truy
lùng, bị đói rét... Thời gian học tập của các thầy được bao nhiêu?
Thế nhưng các thầy đã làm được, không chỉ trở thành những mục tử
nhiệt thành truyền giáo, trở thành cánh tay nối dài cả các thừa sai
để loan báo Tin Mừng, mà nhiều thầy trong mái trường đó đã trở nên
chứng nhân anh dũng, dùng máu mình đổ ra để hạt giống Tin mừng trổ
sinh hoa trái và không ngừng lớn mạnh như sức sống Giáo Hội hôm nay.
Chắc chắn các thầy học một cách trực tiếp từ Thiên Chúa nhờ ơn
Thánh Thần, học nơi tấm gương của các vị thừa sai vừa nhiệt thành,
vừa thánh thiện, vừa thông thái.
Đem so sánh với cơ sở chủng
viện sang trang như Đại Chủng Viện Vinh Thanh chúng ta đang có hôm nay,
cùng với việc tự do tôn giáo trong thời bình này … với cơ sở chủng
viện thô sơ trên những chiếc thuyền lại ở trong hoàn cảnh đạo Chúa
bị cấm cách lúc bấy giờ quả đúng là khác xa một trời một vực. Ước
mong rằng, khi suy về điều này, không chỉ riêng tôi mà trong tâm tư của
mỗi chủng sinh, linh mục tương lai của Chúa sẽ có những định hướng,
suy nghĩ nhất định. Để rồi từ đó, biết quý trong thời gian và mọi
thứ Chúa ban trong hoàn cảnh hiện tại mà nô’ lực sống quảng đại
trong học tập, tu luyện hầu sớm trở thành những mục tử như lòng
Chúa và Giáo Hội ước mong.
Jos. Magnificat LX. K12
[1] Hang toại đạo là hệ
thống đường hầm dài nhiều cây số nằm sâu dưới lòng đất tại các khu nghĩa trang
ngoại thành Rôma.
[2] Linh mục
Augustino Nguyễn Văn Trinh, Lược sử
Giáo Hội Việt Nam,
[3] Linh mục
Augustino Nguyễn Văn Trinh, Lược sử
Giáo Hội Việt Nam, 125
[4] Thánh Giáng
Hoàng Gioan Phao lô II, Pastores Dabo
Vobis, ( PDV,) số 43
[5] x. Bênêđictô XVI,
Đức tin Kitô giáo hôm qua và hôm nay
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét