Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2016

CHỦNG VIỆN ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM


Chúng ta biết, ngay từ sơ khai, Hội Thánh Công Giáo đã trải qua 300 năm bị bách hại dưới thời các hoàng đế Lamã. Cuộc bách hại trường kỳ đó đã khiến các tín hữu phải trốn tránh dưới lòng đất bằng những hang hầm, được gọi là hang toại đạo[1]. Có một sự trùng hợp kỳ diệu là Giáo hội Việt Nam cũng trải qua một thời gian 300 năm (từ cuối thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX), bị các vua chúa phong kiến bách hại và cũng có những cảnh các giáo sĩ phải đào hầm trú ẩn, hoặc cùng với tín hữu vào rừng sâu, hay xuống các khoang thuyền… để rao giảng Tin Mừng. Những cuộc bách hại khủng khiếp đó đã không tiêu diệt được Giáo Hội, trái lại, còn làm cho Giáo Hội không ngừng tăng trưởng. Đó là bằng chứng xác thực Giáo Hội là của Chúa. Chủng Viện đầu tiên của Việt Nam là dùng khoang thuyền của các thầy giảng để đào tạo, nó tương tự như một hình thức đào hầm hoạt động. Đối với tôi, đó là hình ảnh rất đẹp, rất ấn tượng; là dấu chỉ, món quà tuyệt diệu Thiên Chúa gửi đến cho tôi. Từ đó, giúp tôi có thêm động lực theo đuổi lý tưởng sống đời độc thân linh mục cách khiêm hạ, khó nghèo, nhưng quyết liệt hơn. Vì thế, trong bài viết này, tôi muốn trình bày một cách ngắn gọn điều mà tôi cảm nhận được.
Chúng ta biết, Giáo hội Việt Nam trong những ngày đầu khai sinh chưa có Đại chủng viện nào. Trong khi nhu cầu truyền giáo thì quá lớn, lực lượng các thừa sai lại quá ít ỏi, nhiều khi còn thiếu vắng, các ngài đã có sáng kiến lập ra tổ chức Thầy Giảng, là những người đạo đức và có trình độ, để giúp các ngài trong một số công việc như dạy kinh bổn, đưa Mình Thánh Chúa, phụ giúp các thừa sai trong việc loan báo Tin mừng. Sáng kiến này có lẽ phát sinh nhờ vào việc các ngài biết chia sẻ trách nhiệm truyền giáo với giáo dân, một trong những thành công của thủ thuật truyền giáo. Sáng kiến độc đáo này đã đánh dấu khởi sắc một vụ mùa bội thu trong công tác truyền giáo buổi đầu của các Cha Dòng Tên tại Việt Nam. Dĩ nhiên, ngoài việc làm này, các thừa sai còn có những thành tích khác như hội nhập văn hóa, phương thức tiếp cận dân bản địa...
Chính các thừa sai cũng nhận thấy rằng, đời sống đạo của một vùng miền, bản quốc chỉ có thể vững vàng và có sức phát triển mạnh khi nó được chính hàng giáo sĩ bản xứ điều hành, vì hơn ai hết, họ am tường tập quán văn hóa địa phương. Nên từ hình thức tổ chức Thầy giảng, các ngài phát triển lên thành tổ chức Nhà Đức Chúa Trời. Từ môi trường này, các thừa sai sẽ tuyển lựa những người có triển vọng, gởi sang học tập và tu dưỡng tại Chủng viện Miền, để tiến đến chức linh mục. (Chủng viện miền được mở tại Juthia, kinh đô cũ của vương quốc Thái Lan năm 1665, chung cho cả Việt Nam, Campuchia và Trung Quốc. Như vậy, có thể nói, tổ chức Thầy giảng và Nhà Đức Chúa Trời là những hình thức chủng viện sơ khai tại Việt Nam. Với thời gian và do sự lớn mạnh của Giáo Hội Việt Nam, việc cần có các cơ sở đào tạo tại chỗ, nghĩa là các cơ sở chủng viện được tổ chức một cách quy cũ ngày càng trở nên bức thiết. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ hết sức khó khăn, việc vua chúa cấm cách, bách hại đạo, truy lùng và tìm cách trục xuất các thừa sai. Khiến cho việc xây dựng cơ sở vật chất để đào tạo hàng giáo sĩ là dường như không thể. Việc “tương kế tựu kế”, sáng kiến các nhà thừa sai là dùng chính khoang thuyền của các thầy giảng, để giảng dạy triết học, thần học cũng như trau dồi những khả năng chuyên môn và các đức tính cần thiết cho hàng giáo sĩ và giáo phẩm tương lai của Việt Nam. Bởi công việc huấn luyện và thành lập giáo sĩ bản địa và tiến đến thành lập hàng giáo phẩm bản quốc là một trong những nguyên tắc quan trọng được đặt ra trong địa bàn truyền giáo[2].
Vâng lời Đức Cha Lambert de la Motte, ngày 20 tháng 6 năm 1666, Cha Chính Francois Deydier với giấy ủy nhiệm, ngài xuống thuyền đi Đàng Ngoài[3]. Đến đây, việc làm đầu tiên là Ngài tìm gặp các thầy giảng. (Theo Cha Marini, năm 1663 có độ 70 thầy)... sau khi gặp được con số tám thầy và các thầy trẻ, thì Cha Chính Fr. Deydier tiến hành cấm phòng, hội thảo kéo dài (12-15/10/1666), rồi cấp tốc bắt tay vào việc thành lập ngay hàng giáo sĩ Việt Nam. Việc làm này đánh dấu mốc lịch sử vô cùng quan trọng đối với lịch sử hàng giáo sĩ Việt Nam. Từ đây, chủng viện đầu tiên của Đàng Ngoài và cũng là chủng viện đầu tiên của Việt Nam khai sinh. Con số các thầy được chọn để đào tạo ban đầu dù rất ít ỏi (15 thầy); và dù cơ sở của Chủng Viện chỉ là chiếc thuyền trôi nổi trên dòng sông, bất chấp mọi khó khăn gian khổ buổi đầu, Đại Chủng Viện ấy cũng đã có được những hoa trái đầu tiên là cha Bênêdictô Hiền(54 tuổi) và cha Gioan Huệ(47 tuổi) được chịu chức tại juthia Thái Lan (8/6/1668).
Nếu ví Chủng Viện là một vườn ươm, thì chủng sinh là cây ươm trong vườn. Cây ươm sẽ trở thành thứ cây trưởng thành, lớn mạnh, và sinh hoa kết trái cách dồi dào, để rồi tỏa ngát hương và che rợp bóng mát cho khu vườn. Như thế, Chủng viện là môi trường để người chủng sinh trau dồi các nhân đức và lãnh hội những kiến thức quý báu cho sứ vụ mai sau. Trong thời gian tu học tại Chủng Viện, người chủng sinh phải để Chúa gọt đẻo những gì sần sùi, mang tính trần thế nơi con người của mình qua tay nhưng người thợ là các giáo sư, để ngày càng trưởng thành và hoàn thiện hơn. Quá trình huấn luyện, chủng sinh được ví như hòn đất trong tay người thợ gốm (x. Gr 18,6). Chủng sinh được mời gọ đến ở với Chúa, để được Ngài huấn luyện, thông đạt tri thức như hai môn đệ của Gioan xưa đã theo Chúa và đến ở với Ngài(x. Ga 1,39). Việc ở lại với Chúa nói lên mối tương quan gần gũi, thân tình giữa người chủng sinh với Chúa. Đó là một tương quan hết sức mật thiết không gì có thể chia tách( x. Rm 8, 39). Chủng sinh được đào tạo cả về (nhân bản, tri thức, đạo đức và mục vụ)[4], cũng như các Tông đồ ngày xưa (khóa chủng sinh đầu tiên được Chúa trực tiếp đào tạo), nhờ Chúa huấn luyện, các ngài đã trở nên những người bạn chí thiết của Chúa Giêsu, đến nỗi họ đã dám xả thân vì Ngài. Hơn nữa, các Tông đồ biến đổi con người của mình một cách toàn diện: Từ những con người "dốt nát” trở nên những người thông thái; từ những con người nhút nhát trở nên những người can đảm; từ những con người với dự tính và đam mê sự trần thế, các ngài đã trở nên những người sống theo thần thiêng.
Thời gian học tại Chủng viện của chủng sinh là thời gian ở và sống với Chúa để Chúa đào tạo sau đó Ngài sai đi.  Như chính Chúa Giêsu cũng hằng gặp gỡ với Chúa Cha trong những giờ cầu nguyện[5]
Thế thì chúng ta thử hình dung xem, giữa cảnh sông nước, việc sống với Chúa của các chủng sinh Việt Nam đầu tiên sẽ thế nào, quả đúng là khó khăn không thể nào diễn tả, nhưng các thầy vẫn kiên tâm đến cùng. Điều mà ta thường suy nghĩ và nhận định theo cảm tính, không có thời gian cầu nguyện với Chúa nơi Thánh Đường thì làm sao có thể nói là họ hoạt động trong Chúa. Nhưng với các thầy giảng, những chủng sinh đầu tiên của Trường Chúa Thánh Thần nơi khoang thuyền hẳn là rất đặc biệt. Chắc chắn các thầy phải có một lòng yêu mến Chúa và Giáo Hội cách đặc biệt, phải có một tình bạn thân tình sâu sắc với Chúa thì mới có được đủ nghị lực, sức mạnh để chấp nhận tu học nơi một chủng viện như vậy. Một chủng viện mà dù là ngày hay đêm lênh đênh trên sóng nước... Hình ảnh đó, phải chăng cũng là một dấu chỉ để các thầy cảm nghiệm và đón nhận nghịch cảnh của Con Thuyền Giáo Hội Việt Nam nói riêng và Con Thuyền Giáo Hội hoàn vũ nói chung, trong từng giây phút lênh đênh trên biển đời trần gian. Chỉ những ai đích thực là dân làng chài, đánh cá, mới có thể cảm nhận được, thấm thía được nỗi cực khổ “lênh đênh suốt đời trên sóng nước” của các thầy. Nhiều khi ngồi ăn bát cơm cũng không ngon, vì gió thổi mạnh, sóng dữ tợn làm thuyền chao đảo, đó là chưa nói đến khó khăn về những sinh hoạt khác. Chúng ta thử tưởng tượng khi các thầy ngồi học, làm sao mà viết được nếu sóng to gió lớn? Làm sao mà đọc sách nếu gặp cảnh trời mưa, đêm tối không ánh sáng... lại còn bị cấm cách, bị truy lùng, bị đói rét... Thời gian học tập của các thầy được bao nhiêu? Thế nhưng các thầy đã làm được, không chỉ trở thành những mục tử nhiệt thành truyền giáo, trở thành cánh tay nối dài cả các thừa sai để loan báo Tin Mừng, mà nhiều thầy trong mái trường đó đã trở nên chứng nhân anh dũng, dùng máu mình đổ ra để hạt giống Tin mừng trổ sinh hoa trái và không ngừng lớn mạnh như sức sống Giáo Hội hôm nay. Chắc chắn các thầy học một cách trực tiếp từ Thiên Chúa nhờ ơn Thánh Thần, học nơi tấm gương của các vị thừa sai vừa nhiệt thành, vừa thánh thiện, vừa thông thái.
Đem so sánh với cơ sở chủng viện sang trang như Đại Chủng Viện Vinh Thanh chúng ta đang có hôm nay, cùng với việc tự do tôn giáo trong thời bình này … với cơ sở chủng viện thô sơ trên những chiếc thuyền lại ở trong hoàn cảnh đạo Chúa bị cấm cách lúc bấy giờ quả đúng là khác xa một trời một vực. Ước mong rằng, khi suy về điều này, không chỉ riêng tôi mà trong tâm tư của mỗi chủng sinh, linh mục tương lai của Chúa sẽ có những định hướng, suy nghĩ nhất định. Để rồi từ đó, biết quý trong thời gian và mọi thứ Chúa ban trong hoàn cảnh hiện tại mà nô’ lực sống quảng đại trong học tập, tu luyện hầu sớm trở thành những mục tử như lòng Chúa và Giáo Hội ước mong.

Jos. Magnificat LX. K12

[1] Hang toại đạo là hệ thống đường hầm dài nhiều cây số nằm sâu dưới lòng đất tại các khu nghĩa trang ngoại thành Rôma.
[2] Linh mục Augustino Nguyễn Văn Trinh, Lược sử Giáo Hội Việt Nam,
[3] Linh mục Augustino Nguyễn Văn Trinh, Lược sử Giáo Hội Việt Nam, 125
[4] Thánh Giáng Hoàng Gioan Phao lô II, Pastores Dabo Vobis, ( PDV,) số 43
[5] x. Bênêđictô XVI, Đức tin Kitô giáo hôm qua và hôm nay

Cái chết của Đức Giêsu là một hy tế tuyệt hảo


Dẫn nhập
Đau khổ và sự chết là hậu quả của tội lỗi nhân loại, là kết quả sự dữ mà Thiên Chúa ghê tởm. Như thế, đau khổ và cái chết của Đức Kitô cũng chỉ do tội lỗi của nhân loại mà ra. Tuy nhiên, cũng chính trong đau khổ và tội lỗi ấy, có một loài hoa rất đẹp mọc lên. Loài hoa đó mang tên là hiến dâng và vâng phục. Đó chính là Đức Kitô, Mặt Trời Công Chính, người tôi tớ đau khổ, người công chính đau khổ là Chiên vượt qua, nhờ sự hy sinh dâng mình cho Thiên Chúa, bằng lòng chịu chết để đền thay tội lỗi nhân loại. Hiến tế Thập Giá là ngôn ngữ diễn tả tình yêu sống động và tuyệt đối của Chúa Giêsu đối với Thiên Chúa và nhân loại. Hy tế này mang hai chiều kích liên kết chặt chẽ với nhau: chiều kích thứ nhất liên quan đến mối tương giao với Thiên Chúa: đó là sự tuân phục, sự gắn bó toàn thân với Thánh Ý Thiên Chúa; chiều kích thứ hai liên quan đến loài người; đó là sự trao ban toàn thân, biểu lộ tình liên đới huynh đệ. Công Đồng Êphêsô năm 431 quả quyết: “Đức Kitô tự hiến mình hy sinh cho ta trong một hy tế ngào ngạt hương thơm dâng lên Thiên Chúa, Chúa của Ngài” Còn công đồng Tridentino thì xác định: “Đức Kitô tự ý hiến thân đổ máu ra một lần trên bàn thờ thập giá”... Hy tế thập giá có rất nhiều ý nghĩa, mang nhiều chiều kích thần học sâu xa, dù đã có không ít tác giả và tác phẩm từ cổ chí kim suy tư về mầu nhiệm thập giá, nhưng không sách vở nào viết hết. Dù cho cả nhân loại suy tư, viết lách từ rạng đông của ngày sáng tạo cho đến chiều tà của cánh ngày chung, vẫn không thể nào suy cho cùng. Bởi vậy, trong bài viết này, con chỉ hy vọng phác họa và trình bày cách đơn giản nhất, ngắn gọn nhất theo sự hiểu biết hạn hẹp của mình, để coi đó như là một chút cảm nghiệm làm giàu cho hành trang sống ơn gọi của mình.
1/ Cái chết của Đức Giêsu trong sự thinh lặng của Chúa Cha
Khởi đầu cho chuỗi dài cơn đau đớn khổ giá của Chúa Giêsu có lẽ là sự bỏ rơi của các môn đệ Ngài. Các môn đệ được Ngài yêu thương, tuyển chọn và huấn luyện. Các ông đã được chứng kiến tận mắt bao nhiêu điềm thiêng dấu lạ; bao nhiều đắng cay ngọt bùi và vinh quang đều được chia sẻ cùng thầy mình. Thế mà trong giờ khắc thầy sắp bị đưa đi thì họ bỏ rơi, chạy trốn hết, chỉ còn vài kẻ trong họ theo Ngài xa xa. Sự bỏ mặc đó manh nha ngấm ngầm, ngay khi thầy trò đi cầu nguyện tại Vườn Cây Dầu, họ thiếp ngủ, chẳng màng chi đến chuyện cầu nguyện để có sức mạnh. Họ chỉ biết vui sướng hơn hở khi thầy mình được tôn vinh, nhưng khi gian nan đến, họ bắt đầu quên hết mọi thứ. Mới đó không xa, họ được tận mắt chứng kiến vinh quang của Thầy mình, nhất là những người môn đệ thân tín được đặc cách cho thấy trước về vinh quang phục sinh trong biến cố núi Tabore(x. Mt 17,1-9).
Môn đệ thì bỏ rơi, còn về phía Thiên Chúa Cha thì sao? Nhiều người thắc mắc tại sao Thiên Chúa Cha im lặng khi Đức Giêsu chịu đóng đinh và chết tắc tưởi trên thánh giá, nếu đích thực Đức Giêsu là Con Ngài. Ta biết rõ là ý định Thiên Chúa Cha mong muốn sớm thực hiện là cứu độ nhân loại. Cũng chính điều này mà Chúa Con nhập thể và nhập thế. Sự thinh lặng của Chúa Cha không phải là một sự lãng quên, bỏ mặc nhưng đó là một cách thế thể hiện tình yêu tuyệt đối của Ngài dành cho nhân loại tội lỗi. Quả thực, lời cầu nguyện của Đức Giêsu với Chúa Cha để xin Ngài can thiệp, hầu thay đổi cuộc thương khó, chính là để Đức Giêsu bày tỏ tương quan với Chúa Cha. Ngài thừa biết, tương quan Ngài với Chúa Cha sẽ là sức mạnh để Ngài sống hoàn cảnh khốn quẫn nhân loại này[1]. Đức Giêsu đón nhận sự thương khó trong tương quan với Chúa Cha và Thánh Thần(x. Ga 16,32), đó là cách Ngài bày tỏ cho nhân loại thấy bằng chứng tình yêu tuyệt đối mà Thiên Chúa yêu con người (x. Ga 3,16-21). Như thế, Đức Giêsu đã làm cho mầu nhiệm thương khó thành sự chiến thắng. Ngài là một người thật, nên Ngài không biết trước chắc chắn tương lai, nhưng Ngài yêu mến Chúa Cha và biết Chúa Cha yêu mến Ngài, nên Ngài đã hoàn toàn phó thác, đặt hết mọi sự cho Chúa Cha. Chính cái nghịch lý dưới chân thập giá, khi Đức Giêsu tắt thở, việc Chúa Cha im lặng nhưng Ngài đặt để vào môi miệng của một người dân ngoại lời tuyên xưng mạnh mẽ: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa”. Cái nghịch lý này chính là công trình vĩ đại mà Chúa Cha thực hiện, để mạc khải tình yêu. Sự thinh lặng của Chúa Cha là một sự thinh lặng có tính cứu độ, một sự thinh lặng vì tình yêu cứu độ phổ quát. Từ đây, ơn cứu độ không chỉ được hiểu trong sự dành riêng cho dân tộc Do Thái, nhưng là cho cả những người dân ngoại nữa. Ai tuyên xưng và đón nhận Đức Giêsu là Con Thiên Chúa cách minh nhiên hay mặc nhiên... đều được quyền thừa hưởng ơn cứu độ.
2/ Cái chết đích thật của Đức Giêsu: tắt thở trên thánh giá
Đức Giêsu Ktô đã vì tội lỗi nhân loại mà kiên trì đương đầu với cái chết. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Ngài sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết (x. Cv 2,24). Thánh Phêrô còn nói: “Đức Kitô đã mang tội lỗi của chúng ta vào thân thể mà đưa lên cây thập giá (x.1Pr 2,24). Ngài là Đấng không hề phạm tội “chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối”(1 Pr 2,22), nhưng vì chúng ta, để chúng ta được sống trong Người mà Người đã chịu đựng tất cả...
Giáo Hội luôn tin nhận rằng, Đức Giêsu đã chết thật, Ngài đã tắt thở trên cây thánh giá. Giờ Ngài bị treo trên thập giá, kéo dài từ giữa trưa tới ba giờ chiều, rồi tắt thở:“Ngài trao thần khí”(x. Lc 23,46). Tin mừng tường thuật cảnh tượng rùng rợn giờ Chúa tắt thở trên thánh giá, rằng “từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín… giờ Chúa tắt thở, trao Thần Khí thì bức màn trong đền thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới…(x. Mc 15, 33-41; Lc 23,44-49; Ga 19, 28-30). Thánh Gioan diễn tả giờ Chúa Giêsu chịu chết, chính là giờ Người được siêu tôn, được giương cao lên để lôi kéo mọi người về với mình (Ga 12,32). Chúng ta biết, người tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa ngay dưới chân thập giá không ai khác, mà là viên đại đội trưởng, một người ngoại giáo. Khi ghi lại những chi tiết này, Kinh Thánh muốn trình bày một Đức Giêsu của Thánh Kinh như là một Đức Kitô đích thực, là một “Đức Kitô lịch sử” hoàn toàn theo nghĩa đen của hạn từ này. Chính Đức Giêsu đã hoàn tất mạc khải nơi mầu nhiệm thập giá. Lịch sử đã chứng mình cho thấy, một nghịch lý của Kitô giáo, một mầu nhiệm khó hiểu rằng: ai lại đi tin vào một Đấng bị lột trần, đóng đinh trên cây khổ giá. Theo thánh Phaolô Thập giá là sự điên rồ đối với những kẻ hư mất, nhưng đối với những người được cứu độ lại là sức mạnh của Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa sẽ phá huỷ sự khôn ngoan, chê bỏ sự thông thái của nhân loại, chính Ngài là Đấng làm cho sự khôn ngoan của thế gian này trở nên ngu dại. Vì Thiên Chúa đã muốn dùng sự điên rồ của lời rao giảng để cứu độ những kẻ tin... Đối với những người được kêu gọi, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, thì chính Chúa Kitô là quyền năng và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì chính sự điên dại, yếu đuối của Thiên Chúa thì vượt hẳn sự khôn ngoan, sự mạnh mẽ của loài người(x. 1Cr 1, 17-25).
Tại sao Chúa lại phải chịu chết? lịch sử ghi lại, đặc biệt thánh sử Mác cô, cho ta thấy Chúa Giêsu bị buộc tội và rất nhiều người làm chứng gian để khép tội Ngài tại phiên tòa Thượng Hội Đồng Do Thái (Mc 14,58). Vị thượng tế thì buộc tội Ngài nói phạm thượng, vì dám tuyên bố mình là Đấng Mêsia; Một số khác chế diễu và đòi Ngài nói tiên tri… Nhưng cái chết đích thực của Đức Giêsu là để nên trọn lễ tế dâng lên Thiên Chúa Cha hầu cứu độ nhân loại tội lối.
3/ Hy lễ Thánh giá có tính đền bù
Lịch sử cứu độ là một chuỗi dài liên tục của sự hy sinh đền tội được ghi lại cách cụ thể trong chính Lời Mạc Khải của Thiên Chúa là Kinh Thánh. Trong Cựu Ước, những hy tế được diễn tả rõ nhất là hy tế của Aben, của Nôe, của Ápraham, Môsê... Những hy tế này được ghi lại với những nghi lễ rất đơn giản, chẳng hạn như dựng bàn thờ, kêu tên thần thánh, dâng súc vật hoặc các sản phẩm con người làm ra. Phụng vụ không có chỗ nhất định, thừa tác viên cũng không có tính chuyên môn[2].
Hy tế của Đức Kitô đã bắt đầu với việc Nhập Thể (Dt 10, 5-7). Người bước vào trần gian để thi hành ý muốn của Chúa Cha. Hy tế ấy trải dài suốt cuộc đời Người tại thế và được biểu lộ cách hoàn hảo qua cái chết trên Thập Giá. Thánh Phaolô quả quyết: “Đức Giêsu Ktô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất thiết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,… chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8). Đời sống của Đức Giêsu nhục nhã nhiều hơn khải hoàn, thất bại nhiều hơn thành công, đau khổ nhiều hơn vui sướng. Như thế cuộc sống của Đức Giêsu làm nổi bật sự phản loạn của con người chống lại Thiên Chúa và sự phẫn nộ của Thiên Chúa đối với con người. Nhưng đồng thời cuộc sống ấy cũng để cho Thiên Chúa biểu lộ tình thương của Ngài, “lòng thương xót đảm nhận định mệnh của con người, sự tủi nhục, những thất bại và những đau khổ của con người để giải thoát con người[3]. Việc Đức Giêsu đã chịu đau khổ, đã lột mặt nạ sự dữ, vạch trần bản chất của sự phản loạn của con người chống lại Thiên Chúa. Chính ở trong con người bị lên án, bị trừng phạt, mà thân phận nhân loại trước mặt Thiên Chúa được phơi bày ra ánh sáng, bày tỏ mầu nhiệm hai bản tính của Ngôi Hai.
Chúng ta biết rằng, khi đứng trước chọn lựa thập giá, Chúa Giêsu hoàn toàn có tự do, nhưng tại sao Ngài lại đón nhận thập giá? Ngài biết rằng Ngài sẽ bị nộp, bị đánh đòn, bị giết chết. Một mặt, Ngài là một con người hoàn toàn, Ngài cũng biết đau, biết sợ, thậm chí khóc lóc. Sự dằn lòng của Ngài trong Vườn Cây Dầu, mô hôi máu chảy ra đã minh chứng cho nỗi sợ, lo lắng của Ngài trước thập giá. Thế nhưng Ngài vẫn xin vâng theo thánh ý Chúa Cha(x. Lc 22,42). Như vậy, nếu có cất chén cũng là ý muốn của Chúa Cha và Chúa Kitô đã biết từ trước Chúa Cha trao chén đắng cho ngài và ngài xin vâng trọn vẹn. Lời cầu nguyện đầu hoàn toàn phó thác vào Thánh ý Chúa Cha, không ỷ vào sức riêng của mình, nhưng bản lĩnh rất vững mạnh: “Chính tôi tự ý thí mạng sống mình và có quyền lấy lại, đó là lệnh của Cha tôi”(Ga 10,18), và lời nguyện sau “vâng phục trọn vẹn ý Chúa Cha”(x. Ga 4,34) vì yêu mến Chúa Cha(Ga 10,17). Hai ý nguyện làm nổi bật tình yêu có tính vâng phục và tận hiến.
4/ Bước theo Chúa là chấp nhận theo con đường khổ giá
Nói đến Thập Giá của Chúa là nói đến chính Chúa Giêsu chịu đóng đinh, nói đến cuộc Khổ Nạn của Chúa mà mỗi người Kitô hữu đều thông phần khi chịu phép rửa: “Tôi sống, những không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi…Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Người Kitô hữu là con người của thứ Sáu Tuần Thánh và Chúa Nhật Phục Sinh. Con đường của người Kitô hữu, của Hội Thánh chúng ta không là một giấc mơ về Đấng Mesia trần thế. Vị Thiên Chúa đầy nhân tính, Chúa Giêsu của các sách Tin Mừng loại trừ hình ảnh Đấng Messia theo mơ ước quyền năng của con người[4]. Thập giá đảo lộn các ước mơ của con người, những ước mơ bắt đầu bằng tội của Eva. Có lẽ đau khổ và sự dữ là một phần trong đời sống của con người, nó gắn bó không tách rời, trừ khi đã chết đi. Thần học giải thích nguồn gốc đau khổ là do tội lỗi con người. Những đau khổ trong đời gắn liền với tự nhiên, cả đau khổ thể lý, tâm sinh lý hay luân lý… nhìn thấy nó đến với mình, với tha nhân, với thế giới mà con người không cưỡng lại được, chỉ biết dùng đức tin đón nhận…
Theo nhà thần học Karl Rahner, muốn biết Thiên Chúa là ai, phải quỳ dưới chân thập giá và cùng lúc hướng về cánh cửa mà Phục Sinh mở ra[5]. Tìm Thiên Chúa nơi nào khác là tư duy theo kiểu loài người, chứ không theo đường lối của Thiên Chúa. Thập Giá Chúa Kitô hết sức quan trọng, theo thánh Máccô, huyền nhiệm về Đấng Cứu Thế chỉ được bộc lộ rõ rệt khi Người bị chết treo trên thập giá với lời tuyên xưng của viên đại đội trưởng: “Quả thực người này là Con Thiên Chúa”(Mc 15,39). Con đường dẫn đến cảm nghiệm tâm linh không thể tách rời khỏi thập giá. Theo con đường thập giá có nghĩa là từ bỏ bản thân(Mc 8,35), sống liên đới với tha nhân, bán tài sản để phân phát cho người nghèo (Mc 10,21), phục vụ (Mc 10,45) hoặc như Gia kêu trong (Lc 19,1-10) là dẫn chứng cụ thể.
5/ Cơn cám dỗ thoát khỏi thập giá
Đây là cơn cám dỗ thường xuyên đối với chúng ta hôm nay, là tìm kiếm một Đức Giêsu không thập giá, là muốn một thứ “Kitô Giáo” dễ dãi và hợp thời hơn, là khát khao một thứ “Tin Mừng” không nhuốm nước mắt. Tin theo Chúa Kitô thì phải cùng bước đi, cùng vác thánh giá lên đỉnh đồi, để cùng chết với Ngài, hầu được mai táng và lãnh nhận diễm phúc phục sinh. Bởi Chúa là Chúa tể muôn loài mà còn chịu muôn khổ hình, chịu sỉ vả nhiếc nhóc nhạo cười, chịu đòn vót rồi bị giết chết sau đó Ngài mới phục sinh (qua khổ giá mới đến vinh quang). Đó chính là con đường mà Chúa đã đi qua.
Trong cuộc đời trần thế, người Kitô hữu cũng giống như Phêrô, nhiều khi lại muốn kéo Chúa Giêsu ra ngoài và can ngăn về chuyện Ngài muốn tuyên bố rõ ràng về thập giá, và rồi Chúa quở trách ngay là “satan”(x. Mt 16, 23). Cần phải nhận rằng, tin mừng của Chúa Giêsu là một thứ tin mừng khổ luỵ, nghĩa là không phải chỉ có rao giảng mà cốt yếu phải thực hành, làm chứng (tử đạo trong cuộc sống hằng ngày, từng giây). Theo Chúa đồng nghĩa với từ bỏ mình, chết đi cho những vị kỷ bản thân để Chân Lý và Tình Yêu được tỏ hiện. Nếu không như thế, thì Tin mừng trở nên mơ hồ, thập giá trở thành món đồ trang sức, và đạo lý cứu độ biến thành mớ lý thuyết để che chắn và làm bình phong cho một số hạng người nào đó được yên thân an vị. Người tín hữu phải biết rằng, mình luôn bị cám dỗ tránh né hay xuống khỏi thập giá cuộc đời, vì chính Chúa còn bị cám dỗ xuống khỏi đó(x. Mt 27,40).
6/ Người tín hữu sống đời hy tế theo gương Chúa
Người Kitô hữu được mời gọi bước theo Đức Kitô một cách dứt khoát và quyết liệt, để sống đời hy tế theo gương Đấng Cứu Độ của mình. Đó cũng là cách chứng tỏ mình đang thực hiện một cuộc trở về liên tục, vì khi khám phá ra những điều kiện, những yêu sách và những đòi hỏi khác nhau của việc theo Đức Kitô, nhờ đó mà xây dựng được mối tương giao giữa mình với Đấng mà mình đang bước theo, hầu kiện toàn tương quan ấy một cách bền vững hơn. Bước theo Chúa là đi theo con đường khổ nạn của Thầy. Yêu mến Đức Giêsu và bước theo Ngài, góp phần làm dịu các nỗi khổ đau của loài người, là đấu tranh bằng lời nói và cuộc sống, chống mọi nguồn gốc của sự dữ, của khổ đau. Thánh Giá Cứu Độ của Chúa Giêsu đòi hỏi giải phóng khỏi mọi thứ thập ác của tội lỗi và sự chết. Bước theo Ngài là biến các thập giá hằng ngày thành môi trường niềm vui sự phục sinh, cho tình yêu và công lý. Chỉ khi tự nguyện cởi bỏ con người cũ, loại trừ khỏi lòng mình những khát vọng tư lợi, vị kỷ, để mặc lấy con người mới nơi Đức Kitô phục sinh, ta mới thực sự làm cho mình nên giàu có trong ân sủng.
Sách gương Chúa Giêsu có viết câu: “nếu ta cố tìm một Đức Giêsu không thập giá, ta sẽ gặp thập giá mà không có Đức Giêsu”. Sự khôn ngoan và sức mạnh của thập giá chỉ được hiểu khi người ta đảm nhận và trực tiếp kinh nghiệm nó một cách sâu xa, để từ đó không còn nhìn thập giá như một chướng ngại, nhưng là một cơ hội và cách thế thể hiện chính mình một cách cao độ nhất trong Đức Kitô. Để như Phaolô, không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài “Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá”(1Cr 2,2) và mang trong thân mình cuộc tử nạn của Chúa Giêsu(2Cr 4,10), và “để được đồng hình đồng dạng với sự chết của Ngài, để làm sao đạt tới ơn Phục Sinh từ cõi chết(Pl 3,10-11).
Thánh giá là tiêu chuẩn để chọn lựa và quyết định trong mọi trường hợp, chính trong tâm thái này mà tâm hồn ta vẫn luôn được bình an và thanh thoát cả trong những nỗi ngặt nghèo. Nhưng rồi trong thực tế, cuộc sống nhiều khi cũng làm ta giằng co và nhức nhối khôn nguôi do những nỗi trăn trở tuỳ chính tâm hồn mình, giữa cái muốn mà không muốn, giữa cái làm mà không làm, giữa cái cho đi và khước từ, giữa cái dấn thân và đòi hỏi, giữa sống và cái chết… Có rất nhiều kẻ muốn lên thiên đàng với Chúa Giêsu, nhưng rất ít kẻ muốn vác thánh giá với Người; Nhiều kẻ ước ao được ơn an ủi của Người, nhưng ít kẻ muốn chịu thử thách với Người; Nhiều kẻ muốn dự tiệc với Người, nhưng ít kẻ muốn chịu thiếu thốn với Người; Nhiều kẻ muốn vui hưởng với Người, nhưng ít kẻ sẵn sàng chịu sự gì khó với Người; Nhiều kẻ muốn theo Chúa Giêsu đến bàn tiệc bẻ bánh, nhưng ít kẻ muốn uống chén đắng với Người; Nhiều kẻ tôn sùng các phép lạ của Người, nhưng ít kẻ muốn chịu sỉ nhục với Người[6]. Tựa như các môn đệ khi Chúa bị bắt thì bỏ chạy hết, Phêrô cũng chỉ đi theo xa xa mà thôi…
Một vài điểm tóm kết
Sự sợ hãi những gì là đau khổ nơi tâm hồn cũng như thể xác khiến người ta e ngại trước những hi sinh lâu dài, nhưng nếu tin Thiên Chúa là tình yêu thì chính qua những đau khổ đó, Ngài luôn trao ban điều tốt nhất cho những ai yêu mến, tin tưởng phó thác cậy trông vào Ngài. Kinh nghiệm Thánh Phaolô cho thấy, không bao giờ Thiên Chúa gửi thánh giá quá sức một ai. Thiên Chúa luôn luôn đồng hành với nhân loại ngay cả khi họ không cảm nhận được Ngài. Qua đau khổ, cái chết của Chúa, Ngài muốn dạy cho ta ý thức những giới hạn của mình, để biết can đảm chấp nhận và cố gắng sửa mình trong hân hoan. Thiên Chúa có sẵn những kế hoạch tuyệt vời cho từng con người. Nếu ai biết vui vẻ đón nhận thập giá và biết dâng lên Thiên Chúa những bất toàn, khổ đau trong đời để tôn vinh thập giá của Chúa, người đó sẽ gặt hái được hạnh phúc đích thực cả đời này lẫn đời sau.
Lời mời gọi say mê và chiêm ngắm thập giá Chúa Ktiô để góp phần tôn vinh tình thương của Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Trong đời sống, người tín hữu phải luôn quả quyết như Thánh Phaolô: “Tôi sẽ cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá. Tôi sống nhưng không còn là tôi…Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,19-20).  Bằng cuộc sống mỗi ngày, vui buồn sướng khổ, biến cố nhỏ to trong cuộc đời Kitô hữu đều là ân sủng hay dấu chỉ đặc biệt của lòng thương xót Thiên Chúa gửi đến để thánh hóa họ. Điều quan trọng là biết nhận ra, đón lấy bằng niềm tin yêu hy vọng hay không. Ơn cứu độ Chúa hệ tại chỗ ta biết đón nhận thập giá và làm cho thập giá trổ sinh hoa trái. Tâm tình phó thác tuyệt đối vào lòng thương xót của Thiên Chúa, để xin Ngài thương xót bản thân, gia đình, giáo xứ và toàn thế giới đó còn là trách nhiệm mỗi tín hữu. 
 Jos. Magnificat LX. K12

[1] Xem. JB. Nguyễn Khắc Bá, Giáo trình Kitô học, (ĐCV Vinh Thanh: Vinh Thanh, 2015),63.
[2] X. Linh mục Fx. Tân Yên, Kitô Học, (Sài Gòn: Nxb Phương Đông, 2013), 205.
[4] Ibidem, 207.
[5]Karl Rahner, Phaolô Nguyễn Luật Khoa, ofm, n.d. Nhân học Kitô,(HCM: Nxb Từ điển bách khoa 2010), 144
[6]Xem. Thomas Kempis, Gương Chúa Giêsu,  

Cầu nguyện là linh hồn của hoạt động


1/ Dẫn nhập
Như chúng ta biết, rất khó có thể tìm ra một định nghĩa thỏa đáng về việc cầu nguyện, vì cầu nguyện thế nào, cách nào là dựa vào kinh nghiệm khác nhau của từng người[1]. Tuy nhiên, cách chung chung ta có thể tóm lược được như sau: Thứ nhất, cầu nguyện là thưa chuyện, đối thoại với Thiên Chúa cách trực tiếp, như cha con tâm tình trò chuyện với nhau, qua đó ta bộc lộ sự khát khao, dâng lên Ngài tâm tình yêu mến, tạ ơn, chúc tụng, ngợi khen, thậm chí bày tỏ những nhu cầu thiết yếu về vật chất cũng như tinh thần mà ta thấy thiếu thốn, cần thiết. Để Ngài chữa lành, ban ơn, nâng đỡ và đáp ứng. Thứ hai, ta có thể hiểu cầu nguyện là "nâng tâm hồn lên với Thiên Chúa"[2] và luôn khao khát kết hợp với Ngài.
Có nhiều hình thức và nhiều cách diễn tả lời cầu nguyện khác nhau: Khẩu nguyện (đọc hay hát bằng miệng), suy niệm (dùng trí hiểu để suy trong lòng) và chiêm niệm (tức là dùng mắt và trực giác, ký ức để ngắm nhìn). Sách Giáo Lý nói có nhiều loại cầu nguyện khác nhau: Chúc tụng thờ lạy; lời cầu xin; lời chuyển cầu; kinh tạ ơn; lời ca ngợi[3]. Hình thức cầu nguyện có khi mang chiều kích cá nhân riêng tư, có khi mang chiều kích cộng đoàn; cầu nguyện chung hoặc cầu nguyện riêng; cầu nguyện trong hay ngoài phụng vụ nhân danh Giáo Hội hay không; diễn tả nội tâm bên trong hay có thể bộc lộ ra bên ngoài… Nói chung cầu nguyện là có nhiều hình thức, nhưng tập trung vào hai khía cạnh: Khía cạnh thứ nhất 'chúc tụng, ngợi khen, cảm tạ và tôn vinh' chú trọng đến tình yêu, biểu lộ qua nhân đức thờ phượng. Qua cách cầu nguyện này, cho thấy được một sự tín thác hoàn toàn của con người vào Thiên Chúa là Đấng yêu thương. Dù vậy, con người vẫn ít áp dụng hơn so với lối cầu nguyện thông thường, tức khía cạnh nhu cầu, van xin và chuyển cầu. Có thể đối với con người, đây là lối cầu nguyện thiết thực, dễ thực hành, dẫu sao nó cũng nói lên được tính lệ thuộc của con người vào Thiên Chúa. Lời Chúa Giêsu đã là một bằng chứng: “Người khỏe mạnh không cần thấy thuốc, người đau yếu mới cần”. Bởi thế, những con người cực khổ túng quẫn, họ có đủ lý do và quyền lớn hơn trong việc chạy đến van xin lòng thương xót Chúa. Tuy nhiên, cầu nguyện dưới hình thức nào đi nữa thì lời cầu nguyện vẫn chỉ có 4 nội dung: thờ phượng, tạ ơn, xin ơn và tạ tội mà công đồng Tridentino cho là dựa trên nội dung chính của Kinh Lạy Cha mà Chúa Giêsu đã dạy[4].
2/ Cầu nguyện nội tâm hóa hành động
Làm việc gì cũng có kế hoạch, chương trình hoạch định từ đầu đến cuối, để khi bước vào công việc, mọi sự diễn ra theo ý mình muốn. Nếu làm việc không có hoạch định, thì kết quả mang đến cũng chỉ là may rủi, chỉ là cho có. Người ta gọi là làm việc theo cảm hứng, không có tính toán. Vậy thì, bất kể việc gì, người ta cũng cần có suy tính kỹ lưỡng, đắn đo trước sau, lượng định cho nó một thời gian hợp lý, để hành động và ý muốn có sự móc nối. Mọi hoạt động trong đời sống sẽ trở nên khô cứng, thiếu nhựa sống nếu không có cầu nguyện[5]. Cầu nguyện là cách để móc nối hành động của mình với ý tưởng, hợp với ý Chúa và luật Ngài. Như thế, con người của cầu nguyện là biết dâng mọi kế hoạch lên Chúa xin Ngài trợ giúp. Dù việc làm lớn nhỏ, điều Chúa muốn nơi con người là để Ngài làm chủ trong mọi quyết định. Chúng ta thường nghe nói, nhiều cha ra mục vụ giáo xứ cứ chú tâm vào công việc xây dựng cơ sở vật chất, ôm đồm những chuyện đời sống xã hội nhiều khi còn mang sắc màu chính trị. Thậm chí nhiều cha xứ than phiền, mình không có thời gian để cầu nguyện, vì công việc mục vụ giáo xứ quá nhiều. Thiên về hoạt động mà thiếu chất keo gắn kết, thiếu mất nhựa tông đồ là đời sống cầu nguyện thì đó quả là mẫu người duy hoạt động. Chúng ta có một mẫu gương, cũng là bài học rất thực tế, đó là câu chuyện về cuộc đời của Chân Phước Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Trong 9 năm biệt giam cơ cực trong xà lim không có cửa sổ. Có khi đèn điện bật sáng từ ngày này qua ngày nọ. Có lúc lại ở trong bóng tối từ tuần này qua tuần khác. Là một giám mục trẻ, với 8 năm kinh nghiệm mục vụ, nên Ngài bị dằn vặt bởi ý nghĩ phải bỏ giáo phận, bỏ dở những công việc của Chúa, trong người có một sự phẩn uất và như sắp bị điên lên. Ngài kể lại: "Một đêm kia, từ trong thâm tâm có một tiếng nói với tôi: "Tại sao con day dứt như thế? Con phải phân biệt giữa Thiên Chúa và các công việc của Chúa. Tất cả những gì ngươi đã làm và muốn tiếp tục làm, như các cuộc viếng thăm mục vụ, đào tạo chủng sinh, tu sĩ nam nữ, giáo dân, giới trẻ, xây trường học, các cư xá sinh viên, cứ điểm truyền giáo... đều là việc rất tốt và đúng là công việc của Chúa nhưng không phải là chính Thiên Chúa! Nếu Chúa muốn con rời bỏ tất cả những việc đó. Hãy bỏ ngay, và hãy tín thác nơi Ngài! Thiên Chúa sẽ giao việc của con cho người khác có khả năng hơn con. Con phải chọn Chúa, chứ không phải những công việc của Chúa”[6]. Kinh nghiệm ấy đã mang lại cho Ngài một niềm an bình mới mẻ tràn ngập tâm hồn, làm thay đổi hoàn toàn cách suy tư của Ngài trước đó, và nó giúp Ngài vượt thắng những khoảnh khắc hầu như không thể chịu nổi về phương diện thể lý. Từ đó, Ngài cảm thấy sự yếu đuối của con người mình, nhưng lại thấy có Chúa là sức mạnh cho Ngài. Nhờ thế Ngài không bao giờ mất sự bình an nữa. Đó là bí quyết chọn Chúa, chứ không phải chọn những công việc của Chúa. Ðó chính là nền tảng đời sống Kitô trong mọi thời đại. Và đồng thời đó cũng là câu trả lời đích thực nhất cho thế giới ngày nay. Ðó cũng là con đường để thực hiện những dự định của Thiên Chúa đối với chúng ta, đối với Giáo Hội và nhân loại ngày nay.
Tạ ơn sau khi hoàn tất, dù thắng hay bại. Chúng ta thường chỉ nhớ đến Chúa nhiều nhất khi mình rơi vào khốn quẫn, nhớ đến Chúa khi cần đến sự trợ giúp của Ngài, song lại ít nhớ đến Ngài sau khi đã hoàn tất công việc. Đúng như câu ngạn ngữ: “qua cầu rút ván” là thói đời thường vướng mắc. Việc tạ ơn rất họa hiếm, nếu có thì gần như 100% là tạ ơn vì nhận được ơn lành, nhận được trợ lực trước mắt cách nhãn tiền, tạ ơn vì sự thành công, còn họa hiếm việc tạ ơn khi nếm phải sự thất bại. Có lẽ, thất bại mà con người nhìn thấy được theo cảm tính, theo phương diện thể lý mà chẳng thể nhìn thấy được sự thành công rất lớn nằm ngay trong chính sự thất bại đó. Chính cái mà người đời cho là thất bại đó, trước mặt Chúa lại là điều hết sức lành thánh, rất đỗi thành công. Hồi nhỏ, con được nghe lời giảng trong thánh lễ của một linh mục về lời cầu nguyện như thế này: 'Cầu nguyện cũng giống như đứa trẻ em xin Cha Mẹ của mình những thứ mình cần, điều tốt lành, hữu ích cho con thì Cha mẹ nào cũng sẵn sàng; nhưng nhỡ may đứa con xin chơi dao, vì con dao sắc, bố mẹ đành từ chối, hoặc giả nó xin khẩu súng, quả lựu đạn, lọ aixit… làm sao Cha Mẹ nó có thể cho nó được'’. Vậy cái được, cái mất mà con người nhìn thấy thì quả là rất hạn hẹp, có khi sai lệch với ý Thiên Chúa. Bởi chưng, những gì thế gian cho là khôn ngoan, lại là sự điên rồ, ngu dại trước mặt Thiên Chúa và "sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh mẽ hơn loài người”(x. 1Cr 1, 25). Hơn thế, nếu "được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn, hỏi được lợi ích gì?"(x. Mc 8,36; Lc 9,25).
Nhựa cuộc sống chính là lời cầu nguyện. Không thể sống đời sống Kitô hữu mà không cầu nguyện. Thánh Nữ Têrêxa nói: “Không cần ma quỉ cám dỗ, nếu không cầu nguyện ta cũng sẽ sa ngã”. Bởi vì con người luôn đứng trước sức mạnh của muôn vàn cám dỗ, của các đòi hỏi đam mê dục tình, của sức mạnh thế gian, vinh hoa phú quý… còn nơi con người vốn mang thân xác yếu đuối mỏng dòn, tựa như bình sành dễ vở. Bởi thế, nếu không có ơn thánh Chúa trợ giúp, ta không thể nào đứng vững. Thánh Phêrô Tông Đồ đã nghiệm được điều này, nên Ngài khuyên: “Anh em hãy tỉnh thức, vì ma quỷ thù nghịch của anh em như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xe, anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự”(1Pr 5,8-9). Lời Chúa khuyên: “Anh em phải tỉnh thức và cầu nguyện luôn”(Lc 21,36).
3/ Cầu nguyện giúp con người đứng vững trong đức tin
Xác tín cầu nguyện sẽ luôn có kết quả, tuy nhiên ta không nên hiểu kết quả cách máy móc như trong toán học. Bởi kết quả cầu nguyện có được là tùy thuộc vào sự quan phòng và sắp xếp của Thiên Chúa tình yêu. Chính Thiên Chúa sẽ định liệu cách khôn ngoan về mức độ, cách thức và thời gian mà Ngài muốn. Các thánh cũng như các nhà tu đức thường khẳng định cách chắc chắn rằng Thiên Chúa luôn chấp nhận lời cầu nguyện đích thực, nhưng trong một chừng mực nào đó, điều này còn tùy thuộc vào ý Chúa và tùy thuộc ở mức độ hoàn hảo của lời cầu nguyện. Càng cầu nguyện nhiều, tốt hơn, ý ngay lành, đương nhiên ta càng lãnh nhận được nhiều ơn lành hơn. Thánh Phaolô tông đồ cũng nói, ngay chính Con Một Thiên Chúa, Ngài cũng chẳng tiếc xót mà ban cho nhân loại(x. Rm 8,32), phương chi những điều con người xin thì chẳng đáng là gì, cớ sao Thiên Chúa không nhận lời. Trong Tin mừng, Đức Giêsu cũng đã khẳng định điều này: "Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ thì cửa sẽ mở. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho"(Mt 7,7-8).
Dĩ nhiên, với một niềm tín thác, khi cầu nguyện ta biết chắc rằng Thiên Chúa sẽ nhận lời ta xin. Có điều là trong Thiên Chúa, thời gian là một phạm trù con người không với tới, có thể ngay hôm nay, ngày mai, năm sau hay lâu hơn nữa… Thiên Chúa sẽ thực hiện những điều ta cầu xin, vì nếu Ngài có chẫm trễ cũng là vì phần rỗi linh hồn ta. Dù sớm hay muộn, giờ ấy vẫn đến, quan trọng là khi cầu xin lời và ý ta xin có đẹp lòng Ngài hay không. Đây là một trong muôn vàn ví dụ cụ thể để ta có thể vững lòng trông cậy Chúa khi cầu xin: "Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em"(Lc 17,6). Quả đúng vậy, một kinh nghiệm thực tế ai cũng nếm được, là khi tâm hồn ta vương vấn tội lỗi, tâm hồn ta như có một ngọn núi cao thật cao, lớn thật lớn đè nặng, bấy giờ chỉ cần đức tin của ta đủ lớn để sẵn sàng đến với Bí tích Hòa giải, ngay tức khắc ngọn núi vô hình ấy được dời đi khỏi tâm hồn ta. Chỗ khác Chúa cũng đã nói: "Tất cả những gì anh em lấy lòng tin mà xin khi cầu nguyện, thì anh em sẽ được"(Mt 21,22).
Lời cầu nguyện có sức mạnh kỳ lạ, đặc biệt là lời cầu nguyện mang tính cộng đoàn. Các nhà tu đức thường nói, lời cầu nguyện của người công chính sẽ đẹp lòng Thiên Chúa và được Ngài nhận lời ngay, ví như Đức Mẹ trong câu chuyện tiệc cưới Cana, các thánh hay làm phép lạ cũng chỉ là bởi lời cầu nguyện các ngài đẹp lòng Thiên Chúa nên Ngài không có cách từ chối... Nhưng nếu cá nhân không đủ công chính, thì có lời cầu nguyện mang tính cộng đoàn, nghĩa là lời cầu nguyện có tính hiệp thông. Sức mạnh lời cầu nguyện hiệp thông, tính cộng đoàn, tính Giáo Hội thì sẽ được Thiên Chúa chấp nhận. Chúa Giêsu khẳng định: "Thầy cũng bảo thật các con, nếu hai người trong các con, ở dưới đất, mà hiệp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời, sẽ ban cho họ điều đó. Vì ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa những người ấy"(Mt 18,19-20). Một ví dụ điển hình để chứng mình điều này đó là câu chuyện Thánh Phêrô bị bắt theo lệnh vua Hêrôđê, được cộng đoàn Hội Thánh hiệp ý cầu nguyện và Chúa đã sai sứ thần đến cứu Ngài (x. Cv 12,1-11).
Cầu nguyện đúng phương pháp sẽ rất có giá trị và lợi ích không chỉ về phần thiêng liêng mà có khi cả về phần đời nữa. Đến như các Tông Đồ xưa, họ cũng cần đến phương pháp cầu nguyện khi các Ngài xin Chúa Giêsu dạy cho cách thức cầu nguyện, như Gioan đã dạy cho môn đệ mình (x.Lc 11,1-4). Có lẽ là Kitô hữu, ai trong chúng ta cũng biết cầu nguyện, vì cầu nguyện là một nhu cầu và Thiên Chúa một cách nào đó đã ban khả năng cầu nguyện cho con người. Tuy nhiên, cầu nguyện có phương pháp là một điều hết sức cần thiết. Làm gì cũng phải có phương pháp, đúng phương pháp thì có hiệu quả nhanh hơn.
Đức tin được nuôi dưỡng và lớn lên nhờ cầu nguyện. Giáo Hội luôn khẳng định trong giáo huấn của mình rằng: “Luật cầu nguyện là luật của Đức tin” (Lex Orandi, Lex Credendi). Châm ngôn này phỏng theo những lời của Thánh Prosper thành Aquitaine, một tác giả đương thời với Thánh Augustinô. Các khoa Thần học đều nhấn mạnh đến mối tương quan đặc biệt giữa đời sống đức tin và đời sống cầu nguyện, đặc biệt là cầu nguyện mang tính chất phụng vụ của Giáo Hội lại càng rõ nét hơn. Tựa như máu lưu thông trong cơ thể con người thế nào thì lời cầu nguyện được ví như vậy trong đời sống linh hồn tín hữu. Thậm chí người ta còn ví “lời cầu nguyện như hơi thở”, nếu linh hồn không cầu nguyện thì như sự sống không có hơi để thở nữa, sớm muộn nó sẽ chết. Lời cầu nguyện là máng chuyển giao sự sống thần linh, vì nó đem lại ơn Chúa. Lời cầu nguyện là “ bầu khí linh hồn ta hít thở, tin tưởng nảy nở và sinh hoa kết trái”[7]. Chỉ khi nào ta ý thức lời Chúa Giêsu ‘lương thực của Ngài là thì hành ý muốn Chúa Cha’ (x. Ga 4,34), khi đó lời cầu nguyện của ta sẽ sinh hoa kết quả dồi dào.
4/ Cầu nguyện nhờ Chúa Giêsu, với Chúa Giêsu và trong Chúa Giêsu
Lời cầu nguyện hoàn thiện là biết kết hợp với Chúa Giêsu, nhờ Ngài và trong Ngài. Đức Giêsu Kitô là Đấng trung gian, là vị trạng sư, cậy nhờ công nghiệp vô cùng của Ngài thì lời cầu nguyện của ta sẽ trở nên tuyệt hảo trước mặt Chúa Cha. Bởi con người bất toàn, hoàn toàn bất xứng, sao có thể thưa lên Thiên Chúa cách trực tiếp, vậy việc cậy nhờ công nghiệp của Con Thiên Chúa, dĩ nhiên lời cầu nguyện sẽ nên trọn đáng được nhận lời. Khi cầu nguyện, chúng ta có Thiên Chúa ngự trị trong tâm hồn ta, nhờ đó sự bất toàn, yếu đuối của con người chúng ta được dưỡng nuôi và san bằng, bấy giờ con người được trở nên mạnh mẽ nhờ sức mạnh của Thiên Chúa. Bởi cầu nguyện là cách hiệp thông với Thiên Chúa, vậy thì càng cầu nguyện, sự hiệp thông càng gắn chặt hơn thì Thiên Chúa ngự trị trong tâm hồn ta có mật độ càng lớn. Mức độ hiệp thông đạt tới chỗ “ý chí Thiên Chúa bao trù ý chi con người, công việc Thiên Chúa bao trùm cong việc con người”[8], lúc đó sẽ tạo nên một công cuộc mà đôi mắt thể lý con người không thể nhìn thấy, đó là kết quả kiệt tác do Thiên Chúa và con người cùng thực hiện. Chính cầu nguyện là nhịp cầu để con người đến với Thiên Chúa và Thiên Chúa đến với con người. Dĩ nhiên, cầu nguyện là bổn phận của con người phải làm, Thiên Chúa có quyền đòi buộc con người phải thờ phượng Ngài. Kinh Tiền tụng IV trong Thánh Lễ viết: “Tuy Chúa không cần chúng con ca tụng, nhưng việc chúng con cảm tạ Chúa lại là một hồng ân Chúa ban, vì những lời chúng con ca tụng chẳng thêm gì cho Chúa, nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con”. Dĩ nhiên, Thiên Chúa muốn và dạy con người cầu nguyện, mục đích trước nhất vẫn là vì phần rỗi con người. Giáo Hội trong kinh nguyện, nhất là qua Thánh Lễ, đỉnh cao cử hành phụng vụ và đó cũng là lời cầu nguyện vô giá, sau lời truyền phép về mầu nhiệm đức tin, trước khi xướng lời nguyện mà Chúa Giê su dạy, chủ tế đọc: "Chính nhờ Người, với Người, và trong Người mà mọi danh dự và vinh quang đều quy về Chúa là Cha toàn năng trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời”, cộng đoàn thưa: Amen – tin nhận như vậy.
4/ Kết luận
Cầu nguyện thực chất là để cho Chúa Kitô hoạt động trong ta và cùng ta hoạt động. Khi cầu nguyện, là lúc mà ta để Chúa bảo gì thì cứ việc làm theo như lời Đức Maria đã dạy. Đức Mẹ là mẫu gương sống đời cầu nguyện cách hoàn hảo, vì Mẹ hằng 'ghi nhớ Lời Chúa và suy gẫm trong cuộc đời của Mẹ' nhờ đó Mẹ hằng vâng trọn thánh ý Thiên Chúa. Rõ ràng, Đức Mẹ đã để cho Thiên Chúa sử dụng Ngài như khí cụ để phát sinh ân sủng. Mẹ hoàn toàn thưa tiếng xin vâng, và đó là cách để Chúa hoạt động. Một khi để cho Chúa Kitô hoạt động trong ta thì ta sống nhưng không còn là ta, mà là Ngài sống trong ta, hành động trong ta và khi cầu nguyện cũng chính là Chúa Kitô cầu nguyện thay cho ta(x. Gl 2,20). Như thế, một cách nào đó ta có thể khẳng định:"Cầu nguyện là linh hồn của hoạt động". Nếu hoạt động tông đồ mà không có cầu nguyện thì chỉ là việc làm mang tính xã hội. Nói như Thánh Phaolô nói về hoạt động không có cầu nguyện, tức thiếu đức mến thì 'đó chỉ là tiếng la phèng phèng'(x. 1Cr 13,1). Dĩ nhiên, người môn đệ Chúa phải biết kết hợp cả hai trong một như hoạt động của cả hai chị em Maria và Matta. Đời sống cầu nguyện kết tinh hoa trái nơi việc làm và ngược lại, công việc hoạt động tông đồ phải khởi đi từ đời sống cầu nguyện, để tất cả mọi công việc đều nhờ Thiên Chúa làm chủ.

Jos. Magnificat LX K12

[1] Linh mục Phaolô Bùi Đình Cao, Giáo trình Thần Học Luân Lý Chuyên Biệt,( Đại Chủng Viện Vinh Thanh: Lưu hành nội bộ,  2014), 26.
[2] Thánh Gioan Đamascennô.
[3] X. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 2634 -2643
[4] Linh mục Phaolô Bùi Đình Cao, Giáo trình Thần Học Luân Lý Chuyên Biệt, 30.
[5] Ibidem, 32.
[6] https://www.catholic.org.tw/vntaiwan/cnhyvong/cnhyvong08.htm. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2016.
[7] P. CoLin, CSSR (bản dịch: lm Phê rô Vũ Văn Tự Chương), Vạy… hãy cầu nguyện đi, (Édicsion Saint – Paul, Paris 1953), 271.
[8] P. CoLin, CSSR (bản dịch: lm Phê rô Vũ Văn Tự Chương), Vạy… hãy cầu nguyện đi, 55.

Lời sấm của ngôn sứ Na-than (2Sm7, 8-16)


I/ Dẫn nhập
Đọc lại lịch sử cứu độ thời Cựu Ước chúng ta dễ dàng nhận ra ba điểm then chốt Thiên Chúa đã thực hiện trên các nhân vật trong các câu chuyện được xây dựng trong Kinh Thánh, đó là: Tuyển chọn – Lời hứa – Kết ước. Khởi đi từ lời hứa cứu độ (x. St 3,15; 9,9) Thiên Chúa sẽ thực hiện sau khi nguyên tổ phạm tội. Việc Thiên Chúa đã tuyển chọn Nô-e, Áp-ra-ham, Giuse, Mô-sê, Giô-suê rồi đến Đa-vít… Như thư Do Thái viết: “Thủa xưa, nhiều lần nhiều cách đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ…”(x. Dt 1, 1)
Có thể nói, lịch sử cứu độ sang trang khi Thiên Chúa tuyển chọn vua Đa-vít. Từ một con người được tuyển chọn là Áp-ra-ham, Thiên Chúa hứa ban cho ông dòng giống như sao trên trời, như cát ngoài biển(x. St 22,17). Dòng giống ấy bành trướng từ một gia đình, đến một dân tộc và sau đó là một quốc gia. Khi Đa-vít được xức dầu tấn phong, niềm hy vọng cứu độ quay sang một hướng mới. Hướng mới đó thể hiển cách rất đặc biệt và rõ ràng nơi lời sấm của ngôn sứ Na-than trong (2Sm7, 8-16) mà sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu. Như Áp-ra-ham đã là cha của tất cả dân Ít-ra-en, cha những kẻ tin; cũng như Mô-sê là trung gian để Thiên Chúa ràng buộc chính Ngài với dân Ngài trong một tôn giáo thật sự, được đặt nền tảng trên Giao Ước. Đến lượt Đa-vít, Thiên Chúa đã chọn ông để thiết lập một vương quốc mà đến một ngày nào đó, sẽ trở nên vĩnh cửu và phổ biến, trong đó ơn Cứu độ được tìm thấy. Từ đây, niềm hy vọng cứu độ của Ít-ra-en cũng chính là niềm hy vọng của cả nhân loại sẽ hướng về triều đại của Đa-vít, vị vua đang cai trị lúc đó và đặc biệt về một vị vua vĩ đại sẽ đến trong tương lai, phát xuất từ dòng dõi của Đa-vít.
II/ Thiên Chúa tuyển chọn vua Đa-vít
Theo lẽ thường thì kẻ được chọn lên kế vị Sa-un là một trong số các người con của Sa-un, (theo tục cha truyền con nối của thể chế quân chủ như các vương quốc chung quanh) nhưng Thiên Chúa lại chọn Đa-vít. Việc Đa-vít được tuyển chọn cho thấy rõ tư tưởng, đường lối và cách thức Thiên Chúa thực hiện khác xa và vượt hẳn đường lối, tư tưởng loài người. Đức Chúa phán với Sa-mu-en: “Đừng nhìn theo diện mạo và vóc dáng cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó(lối nói ám chỉ về Sa-un).Không phải chuyện người phàm nhìn thấy, vì người phàm nhìn theo đôi mắt, còn Đức Chúa nhìn tận đáy lòng.”(1Sm 16, 7). Như trong sách ngôn sứ I-sa-ia đã nói: “Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta. Như trời cao hơn đất chừng nào, thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy”.( Is 55,8-9). Hoặc như Thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Cô-rin-tô: “Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người.”( 1Cr 1,25). Dĩ nhiên, Đa-vít rất đa tài, bằng chứng là có các truyền thống cho thấy Đa-vít có tài chính trị, chinh chiến, đánh giặc(1Sm 17,54) và tài lỗi lạc về âm nhạc, đàn hát, rất được lòng vua(1 Sm 16,22-23)… Đa-vít là một vị vua đẹp lòng Thiên Chúa và toàn dân, đó là khi ông một lòng tin tưởng và trung thành với Đức Chúa. Nhưng ông cũng trở thành kẻ chiến bại vì phạm vào tội ngoại tình và giết người.
III/ Lời Sấm của tiên tri Na-than(2 Sm 7,1-17)
Lời Sấm của tiên tri Na-than(2 Sm 7,1-17) thường được nhắc đến trong các sách khác của Cựu Ước, nhất là trong các Thánh vịnh. Chẳng hạn Thánh vịnh nói về lòng nhân nghĩa của Thiên Chúa đối với Đa-vít, về giao ước giữa Thiên Chúa với Đa-vít(Tv 88, 89); Thánh vịnh 2 ca tụng về sứ điệp của Na-than… Có thể nói rằng, lời sấm của ngôn sứ Na-than (2 Sm 7,1-17) là đỉnh cao của thần học trong Cựu Ước và là chìa khóa mở vào Tân Ước đối với nền thần học Ki-tô giáo vì các lý do sau:
1/ Thiên Chúa luôn trung thành giữ lời hứa
Chính Thiên Chúa đã đưa con cái Ít-ra-en lên khỏi Ai-cập. Chính Thiên Chúa đã tuyển chọn các thủ lãnh chăn dắt Ít-ra-en thay Ngài. Chính Ngài đã “nay đây mai đó trong một cái lều và trong một nhà tạm…Trong suốt thời gian nay đây mai đó với toàn thể con cái Ít-ra-en” (2Sm7,6-7). Chính Thiên Chúa đã luôn ở với dân, Ngài dùng các ngôn sứ, thủ lành mà dẫn đưa dân qua các thời kỳ lịch sử. Cứ mỗi lần dân bất tuân, bỏ xa huấn lệnh, không tuân giữ lời cam kết, phạm tội trái mắt Ngài. Thế nhưng Thiên Chúa không nỡ từ bỏ, nhưng Ngài đã dùng các tiên tri mà sửa phạt, thức tỉnh. Khi dân biết lỗi và hối hận, Ngài lại thực hiện việc tuyển chọn và kết ước…Lời Sấm nơi môi miệng ngôn sứ Na-than mà Thiên Chúa dùng để nói với vua Đa-vít, rằng: “Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền…”. Đó là bằng chứng Thiên Chúa luôn trung thành giữ lời hứa cứu độ mà Ngài đã phán.
2/ Thiên Chúa mạc khải nơi và cách thức thờ phượng Ngài
Ý tưởng vua Đa-vít xây cất đền thờ cho Đức Chúa là rất tốt lành khi ông nói với Na-than: “Ông xem, tôi ở trong một ngôi nhà bằng bá hương, còn Hòm Bia Thiên Chúa thì ở giữa tấm vải”(2 Sm7,2). Ban đầu tiên tri Na-than cũng đã đồng ý việc này, nhưng Thiên Chúa lại muốn điều ngược lại. Ngài không chờ mong Đa-vít xây cho Ngài một ngôi nhà, mà chính Ngài sẽ xây “nhà” cho Đa-vít. Dưới đây là những lý do:
2.1/ Thiên Chúa không hề chờ mong Đa-vít xây cho Ngài một ngôi nhà
Thiên Chúa không cần Đa-vít xây cho Ngài một đền thờ vì: Thực ra công trình của con người không làm tăng thêm sự cao trọng cho Thiên Chúa. Bởi vì tất cả những gì con người làm cho Thiên Chúa thì có lợi cho con người chứ chẳng phải cho chính Thiên Chúa. Ở điểm này, ta liên tưởng đến lời Kinh Tiền Tụng đọc trong Thánh Lễ: “chúng con tạ ơn Cha mọi nơi mọi lúc, thật à chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con”. Thực sự, Thiên Chúa Không hề đòi hỏi nơi con người phải chú trọng về hình thức bề ngoài. “Trong suốt thời gian nay đây mai đó với toàn thể con cái Ít-ra-en… rằng: Sao các ngươi không xây cho Ta một ngôi nhà bằng bá hương”( 2 Sm 7,6-7). Bởi vì, dù ở đâu đi nữa, nơi một cung điện ngọc ngà nguy nga hay chỉ là một chiếc lều tạm bợ thì vinh quang Ngài vẫn không hề bị cắt giảm. điều này được minh chứng khi Chúa Giêsu nhập thể làm người, Ngài đâu cần sinh ra trong một dinh thự giàu có, một cung điện nguy nga, nhưng chỉ là máng cỏ nghèo hèn “không chỗ ối đầu”(Mt 8,20). Đây cũng là điểm mà phần đông người Do Thái, (dân Ít-ra-en) cho đến giờ vẫn còn trông chờ Mê-si-a, vì họ không chấp nhận Chúa Giêsu.
2.2/ Con người không thể định vị, gắn chặt Thiên Chúa một nơi cố định theo ý mình
Ta thấy trong suốt chặng hành trình mà con cái Ít-ra-en từ núi Si-nai cho đến đất hứa, Hòm Bia Giao Ước như là một dấu chỉ hữu hình về sự hiện diện thường trực của Thiên Chúa luôn ở với dân. Hòm Bia ấy luôn ở dưới lều du mục và đi theo dân trong suốt những nơi mà dân di dời. Đây là lời sấm qua tiên tri Na Than: “Từ ngày Ta đưa con cái Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập cho đến ngày hôm nay, Ta không hề ở trong một ngôi nhà, nhưng Ta đã nay đây mai đó trong một cái lều và trong một nhà tạm”. Nghĩa là nơi nào có dân, thì nơi đó Thiên Chúa hằng hiện diện, đồng hành để ở với dân, sẵn sàng lắng nghe dân kêu cầu. Ngài muốn dân Ngài cũng phải thờ phượng Ngài, tôn kính Ngài mọi nơi, mọi lúc và chỉ phụng thờ một mình Ngài mà thôi(x. Dnl 6,5; 30,6; Lc 4,8). Điều mà sau này trong Tân Ước, Chúa Giêsu trả lời cách rõ ràng cho người phụ nữ Sa-ma-ria:“ Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem”(Ga 4,21);Nhưng giờ đã đến –và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế”(Ga 4,23). Ngài cũng chẳng cần việc thờ kính Ngài bằng môi miệng, nhưng lòng trí thì xa Ngài, và bởi Thiên Chúa cũng chỉ “ muốn lòng nhân hơn là lễ tế”…
2.3/ Chính Thiên Chúa mới là người ban ân huệ chứ không phải con người.
Đa-vít đang ở trong vòng tay Thiên Chúa, chứ không phải ngược lại. Vì thế Chúa mới khẳng định cho ông biết “ngươi mà xây nhà cho Thiên Chúa sao”? Ngài nhắc nhỡ Đa-vít “Chính Ta đã cất nhắc ngươi, từ một kẻ lùa chiên ngoài đồng cỏ, lên làm người lãnh đạo dân Ta là Ít-ra-en”( 2Sm 7,8). Điều quan trọng là Thánh ý Thiên Chúa chứ không phải việc xây cất đền thờ cho Ngài. Hơn nữa, điều Thiên Chúa muốn là Ngài sẽ định cư dân Ngài cách lâu bền: “Ta sẽ dọn cho Ít-ra-en dân Ta một chỗ; Ta sẽ trồng chúng xuống và chúng sẽ định cư ở đó, chúng sẽ không run sợ và quân gian ác sẽ không còn áp bức chúng như thuở ban đầu… Đức Chúa sẽ làm cho ngươi một “ngôi nhà”. Hình ảnh ngôi nhà có thể là dòng dõi của hoàng tộc Đa-vít nhưng cũng có thể là hình ảnh tiên trưng về Giáo Hội. Lời sấm: “Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi, một kẻ xuất từ lòng ngươi, và Ta sẽ làm cho vương quyền nó được vững bền” (2Sm 7,12).
3/ Từ đây Thiên Chúa chính thức xây dựng tương quan “Cha” – “Con”
Các vị vua kế vị Đa-vít mãi về sau đều được gọi là con của Thiên Chúa: “Đối với nó Ta sẽ là cha, đối với Ta nó sẽ là con” (2Sm 7,14). Trong nhiều nền văn hóa, vua được gọi là Thiên tử (Con trời). Thánh vịnh 2 đã nhắc đến: “Ngươi là con Ta, ngày hôm nay Ta đã sinh ra con”.  Lời này được chính Chúa Cha nói lại trong ngày Chúa Giêsu chịu phép rửa: “và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng : Con là Con của Cha ; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con”( Lc 3,22) và được nhắc lại trong (Cv 13,33; Dt 1,5; 5,5). Nghĩa là từ nay, vua sẽ đóng vai trò trung gian giữa Thiên Chúa và dân Ngài như Mô-sê trước đó. Với tư cách là con riêng của Thiên Chúa, vua sẽ đại diện Thiên Chúa giữa dân và cũng là đại diện dân chúng trước mặt Thiên Chúa. Qua vua, dân sẽ thấy dấu hiệu rõ ràng về sự bảo trợ của Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đã cam kết bằng lời thề, để từ nay Đa-vít không còn phải sợ Thiên Chúa vì Ngài là Cha. Nhưng Ngài đòi buộc một sự tuân phục khi Thiên Chúa nói: “khi nó phạm tội, Ta sẽ sửa phạt nó bằng roi của người phàm”. Cứ mỗi lần có một vua thuộc dòng dõi Đa-vít được tấn phong sau này, sẽ là dịp để ăn mừng, vì hoàng tử ấy, vị vua ấy được gần Thiên Chúa, và biết đâu đó là Đấng sẽ chính thức thực hiện lời hứa cách tròn đầy, là Đấng Mê-sia mà dân đang ngóng đợi. Cứ như thế mà dân luôn trong tình trạng ngóng đợi Đấng Cứu Thế, Đấng là Mê-sia đóng vai trò quyết định trong lịch sử cứu độ, là vị Thiên sai có vương quyền, uy lực thực sự (theo cách hiểu của loài người). Có lẽ vì thế nên khi Chúa Giêsu đến, không phải trong vương quyền, mà chỉ là thân phận tôi tớ đau khổ, nên người Do Thái đã quyết loại trừ Đấng ấy.
Tương quan “Cha” – “Con” được mạc khải cách tròn đầy khi Con thiên Chúa là Đấng Mêsia nhập thể làm Người. Thánh Phaolô đã nói: “Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử”(Gl 4,4-5). Thánh Irênê cũng nói: “Thiên Chúa làm người là để con người được làm con Thiên Chúa”.

4/ Đấng cứu độ sẽ xuất thân từ hoàng tộc Đa-vít
Đây là lời sấm: “ Trước mặt Ta, nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ muôn đời bền vững, và ngai của ngươi sẽ được bền vững đến muôn đời”( 2Sm 7, 16). Một vương quyền tồn tại muôn đời chỉ có trong Thiên Chúa, nơi Thiên Chúa. Hình ảnh này chắc chắn chắn nói đến Đấng Mê-si-a, một vương quyền(vị vua vĩ đại) sẽ thống lĩnh và chăn dắt Ít-ra-en đến muôn đời. Như trong sách Tin mừng Lu-ca ghi lại biến cố truyền tin cho Đức Mẹ, diễn tả lời của Sứ thần nói: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giê su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1,33).
IV/ Phần Kết
Thực sự Lời Sấm của ngôn sứ Na-than là đỉnh cao của thần học trong Cựu Ước. Qua nhân vật Đa-vít, chương trình cứu độ của Thiên Chúa đã vạch ra tiến thêm một bước. Lời hứa của Thiên Chúa mạc khải rõ ràng hơn, mặc dù sự xuất hiện của từ “Mê-si-a” (Đấng được xức dầu) đã có ngay khi nền quân chủ ra đời dưới thời vua Sa-un, nhưng chỉ trong Lời Sấm của Na-than nói về dòng dõi “nhà” mới thực sự giúp người ta nghĩ về một nền quân chủ vững bền, là bảo chứng hòa bình thịnh trị cho con cháu tổ phụ Áp-ra-ham. Hơn nữa, trong Lời Sấm có nói đến lời hứa với vua Đa-vít về một vị vua sẽ cai trị muôn dân đến muôn đời. Đó mới thực sự là vương quyền của Đấng Mê-si-a vĩ đại. Tuy nhiên, đối với Ít-ra-en, Thiên Chúa vẫn là vị vua đích thực của họ. Bằng chứng là việc tiên tri Sa-mu-en đã phải trải qua tâm trạng khó xử khi phải chấp nhận xức dầu cho một người làm vua Ít-ra-en, và chính Thiên Chúa cũng đã chẳng hề muốn điều đó(x. 1Sm 8, 6-7).
Lời Sấm ấy như chìa khóa mở vào Tân Ước cho nền thần học ki-tô giáo ở các điểm phân tích trên. Làm toát lên hình ảnh về Đấng Cứu Thế có vương quyền vĩnh cửu; một Giáo Hội được thiết lập qua hình ảnh “ ngôi nhà” Thiên Chúa hứa cho dòng dõi Đa-vít; đến thời người ta sẽ tôn kính Thiên Chúa khắp mọi nơi, trong thần khí và sự thật…
Chúng ta biết, ơn gọi là một hồng ân phát xuất từ nơi Thiên Chúa: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em”(Ga 15,16). Con người chẳng là gì trước mặt Chúa, Ngài chọn gọi ai đó chỉ vì Ngài muốn và Ngài yêu thương mà thôi. Trước mặt Chúa, hết mọi người đều bất xứng, vì tất cả đều bởi Chúa và do Chúa. Ngay chính sự hiện hữu của mỗi người trên đời này cũng bởi tình yêu của Thiên Chúa. Tự bản thân con người vốn chẳng là gì, vì thế điều mà người môn đệ theo Chúa cần ý thức là nổ lực cộng tác với ơn Chúa để thánh hóa bản thân hằng ngày. Khiêm tốn để Chúa làm chủ cuộc đời, để Ngài hướng dẫn và huấn luyện.
Có nhiều linh mục khởi sự đời sống tông đồ rất thành công, thành công trong đời sống mục vụ, nhất là việc xây cất nhà thờ, xây dựng các cơ sở vật chất cũng như các hội đoàn của giáo xứ… nhưng rồi dần dà mất đi sự bình an, một vài linh mục đã rơi vào những yếu đuối và đêm đen cuộc đời. Có thể những linh mục ấy đã rơi vào cám dỗ “xây dựng hình tượng mình” hơn là xây cất đền thờ Thiên Chúa nơi tâm hồn tín hữu. Khi có được những thành công thì bị cuốn hút và quy hướng về mình hơn về Thiên Chúa, chú tâm làm rạng danh mình hơn để cho danh Thiên Chúa cả sáng.
Mặc dù Đa-vít là vị vua đạo đức, tài giỏi nhưng ông cũng chỉ là một con người, có thể sau những thành công ông không thể tránh khỏi bị cám dỗ bày tỏ quyền uy sức mạnh của mình. Đa-vít có thể bị lóa mắt vì những thành công rực rỡ trên đường đời. Phải chăng Thiên Chúa biết trước rồi đây Đa-vít sẽ làm sự trái mắt Ngài? Thậm chí, ý định xây dựng Thánh điện kính Đức Chúa cũng là một cách thức để ông chứng tỏ mình cho dân Chúa. Hay có thể ông muốn biểu dương sức mạnh của mình với các đế vương chung quanh để được tôn trọng? Còn Thiên Chúa lại muốn các thủ lãnh mà Ngài đặt làm vua, mục tử (như các môn đệ thời Tân ước Ngài chọn) là trở nên tôi tớ của dân “để phục vụ chứ không phải để được người ta phục vụ”(Mt 20,28). Môn đệ theo Chúa phải luôn ý thức rằng mọi việc mình có thể thực hiện được, hay mọi thành công dù lớn hay nhỏ đều phát xuất từ Thiên Chúa chứ không phải từ nơi mình. Để rồi không bao giờ tỏ ra tự cao, tự đại, nhưng biết khiêm tốn bày tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa vì mọi ân huệ Ngài ban. Sau khi hoàn tất việc đã làm thì hãy khiêm tốn nói “con chỉ là đầy tớ vô dụng, con đã chỉ làm việc bổn phận mà thôi” (x. Lc 17,10).
Đa-vít dù được lòng Chúa và thành công đến đâu thì vẫn không thể qua ải mỹ nhân. Người môn đệ trong thời đại hôm nay càng phải thức tỉnh và biết đề cao cảnh giác với cám dỗ của tính xác thịt, bởi ai cũng thừa biết được sự yếu đuối và quá mỏng giòn nơi thân xác mình. Mỹ nhân kế thường bị kẻ xấu sử dụng đối với những người thiếu sự đề cao cảnh giác, nhất là với những ai đang trên bước đường thành công cách nào đó. Người môn đệ muốn luôn đứng vững và trung thành trên con đường theo Chúa, cần có một đời sống nội tâm thâm hậu, chuyên cần với việc cầu nguyện, tuy nhiên phải biết rằng chính Thiên Chúa không bao giờ muốn con người gắn chặt Ngài một chỗ và bắt Thiên Chúa hành động theo ý riêng của mình. Cầu nguyện là để xin Chúa chỉ cho biết mình cần phải lắng nghe và thực thi thánh ý Ngài như thế nào, chứ không phải nhất nhất bắt Chúa hành động theo ý riềng ta.

Jos. Magnificat Lx k12